Truyền hình Việt Nam: Thách thức và cơ hội

MỤC LỤC

I….. Vài nét về sự ra đời và phát triển của Đài truyền hình Việt Nam:

1.    Giới thiệu khái quát chung:

2.    Chức năng nhiệm vụ của Đài truyền hình Việt Nam:

3.    Truyền hình Việt Nam- Nhìn lại chặng đường phát triển:

II… Truyền hình Việt Nam- cơ hội và thách thức:

1.    Những thay đổi khi Việt Nam hội nhập :

a.     Cơ hội để Việt Nam tiến nhanh, mạnh, kịp với tiến độ phát triển của thế giới:

b.     Thách thức đặt ra trong lĩnh vưc truyền hình:

2.    Xu hướng chung của thế giới tác động đến truyền hình Việt Nam:

3.    Thách thức và giải pháp cho truyền hình

a.     Thách thức của truyền hình ngày nay

b.     Giải pháp cho truyền hình

4.    Những chương trình truyền hình của Việt Nam mạnh và yếu:

a.     Truyền hình thực tế:

b.     MC truyền hình cần phải thay đổi cho hiện đại mới mẻ để khắc phục sự nhàm chán

c.     Truyền hình Việt Nam khó khăn về nguồn tài chính:

5.    Sự cạnh tranh giữa các kênh truyền hình với nhau:

a.     Truyền hình trả tiền đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn

b.     Truyền hình số:

c.     Gameshow truyền hình cơ hội và thách thức trong thời đại đa phương tiện thông tin, giải trí:

6.    Truyền hình Việt Nam phải lên kế hoạch cạnh tranh với các loại hình báo chí truyền thông khác:

III… Kết luận

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI: Truyền hình Việt Nam thách thức và cơ hội

“Những thành tựu kỳ diệu của khoa học – kỹ thuật và công nghệ từ thế kỷ XX với việc tạo ra những phương tiện truyền thong hiện đại đã thu hẹp trái đất lại khiến không còn một khu vực nào trên thế giới sống lẻ loi cô lập”(www.vtv.vn). Bên cạnh sự tồn tại của phương tiện truyền thông đã có từ lâu như  báo in và phát thanh, vào thế kỷ XX truyền hình đã ra đời như một bước đột phá về khả năng truyền tải được các loại hình âm thanh, hình ảnh, màu sắc, truyền hình ra đời đã đáp ứng được nhu cầu nghe nhìn của cả thế giới. Không nằm ngoài quy luật chung, tuy có ra đời muộn hốn với truyền hình các nước Châu Âu: Anh, Đức,Pháp… nhưng vào cuối thể kỷ XX truyền hình đã xuất hiện ở Việt Nam. Trước đây đã có nhà khoa học nhận định rằng  thế kỷ XX là thế kỷ “bá chủ” của truyền hình. Và ở Việt Nam sự phát triển của hệ thống truyền hình từ trung ương đến đia phương đã làm cho đời sống báo chí ngày càng sôi động hơn.

Đài truyền hình việt nam với tư cách là một đài truyền hình quốc gia đã và đang giữ vai trò rất quan trọng trên mặt trận công tác tư tưởng của Đảng. Ngoài ra đài truyền hình cũng là nơi cung cấp thông tin mọi mặt trong cuốc sống cho nhân dân Việt Nam và Kiều bào nươc ngoài một cách chính xác và nhanh chóng nhất, cho nên Đài đang nhận được sự ủng hộ to lớn của nhân dân cả nước. Để có được bước tiến vũng chắc và lấy được niềm tin lớn lao nơi công chúng, cho đến nay Đài truyền hình đã phải trải qua một công đoạn phát triển hết sức lâu dài, đầy những khó khăn và thử thách. Và thử thách ấy không ngừng tăng lên, khi Việt Nam gia nhập  wto, hòa chung vào sự phát triển của thế giới.

Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nhiều phương tiện truyền thông hiện đại ra đời, các loại hình truyền thông xuất hiện từ trước thì không ngừng cải tiến, đổi mới, nên giữa các phương tiện truyền thong có sự tương tác mạnh mẽ, sự cạnh tranh ngày càng lớn, đây chính là thách thức lớn đối với nhà Đài. Thế giới chuyển mình hướng tới một xã hội tiên tiến, hiện đại, những luồng thông tin tràn ngập trên đời sống, điều này là một cơ hội để tất cả các phương tiện truyền thong mở rộng kết nối, khẳng định vị trí đứng của mình với công chúng, truyền hình cũng là lĩnh vực được công chúng quan tâm, chú ý, cho nên ngoài là điều kiện là cơ hội thì cũng chính là thách thức của Đài truyền hình Việt Nam, bởi không chỉ khẳng định vị trí của mình đối với công chúng trong nước mà còn phải vươn xa ra các nước khác, liệu nhà Đài có làm được điều này, có khẳng định được vị trí của loại phương tiện truyền thong số 1?- Đây là một câu hỏi lớn, mà nhà đài còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa, áp dụng những tiến bộ trong lĩnh vực truyền thông để cũng đưa Việt Nam vượn ra thế giới.

I.  Vài nét về sự ra đời và phát triển của Đài truyền hình Việt Nam:

1.  Giới thiệu khái quát chung:

Các tiến bộ trong công nghệ thông tin có ý nghĩa lớn về xã hội và kinh tế, khiến dân chúng có thể tìm kiếm cả những thông tin nằm ngoài cộng đồng của họ, kết nối với dân cư ở các cộng đồng khác, chia sẻ mối quan tâm và học hỏi từ những người có nhiều kinh nghiệm và kiến thức. Mỗi ngày qua đi trong Kỷ nguyên Thông tin mà chúng ta đang sống hiện nay, các kết nối này lại mang đến những kết quả tốt đẹp không ngờ dưới nhiều hình thức khác nhau.

Để đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội, đài truyền hình việt nam đã hình thành: Vào quý II/1967 , Đài tiếng nói Việt nam cử lãnh đạo của đài đi thăm và ký với viện phát thanh – truyền hình Cuba (ICRT) một hiệp định song phương. Trong đó có điều khoản Cu ba nhận giúp Việt Nam đào tạo cán bộ truyền hình.

Quý IV/1967, Đài tiếng nói Việt Nam chọn từ các ban biên tập, các đài phát sóng 16 anh chị em đã tốt nghiệp đại học, có kinh nghiệm nhờ trường đại học bách khoa Hà Nội tập huấn lý thuyết về truyền hình.

Thangs4/1968, đoàn cán bộ và nhân viên kỹ thuật đi Cuba học và thực tập 18 tháng theo hiệp định đã ký.

Tháng 1/1970, các thành viên đầu tiên của Đài truyền hình tương lai đã khắc phục mọi khó khăn để tạo dựng những thiết bị ban đầu.

Ngày 5/8/1970 sau một thời gian chuẩn bị ráo riết đài tổng diễn tập nội bộ thành công.
Ngày 7/9/1970 đài mời các vị khách thân thiết gồm Hoàng Tùng, Phan Anh và nhiều vị thuộc các nghành dự buổi ra mắt của đài truyền hình Việt Nam. Chương trình buổi phát đầu tiên có thời lượng 15′ và 30′ ca nhạc. Nữ phát thanh viên đầu tiên là Lan Hương có khuôn mặt xinh đẹp, giọng miền nam, còn nam phát thanh viên là anh Nguyễn Thơ. Các ca sĩ: Thanh Huyền, Bích Liên, Thúy Hà, Kiều Hưng…đều xuất hiện trong chương trình.

Ngày 7/9/1970, đài phát liền 5 buổi để mời bạn bè và cộng tác viên gần xa đến dự cùng chia vui. Một tuần sau, phó thủ tướng Lê Thanh Nghị ký quyết định cấp 400.000 rúp cho đài mua các thiết bị ban đầu. Các đồng nghiệp Balan bán rẻ cho đài một chiếc xe truyền hình lưu động. Như vậy VTVđược thành lập từ một ban biên tập của Đài tiếng nói Việt Nam.

Năm 1976: Tách khỏi Đài Tiếng nói Việt Nam và chuyển tới địa điểm mới và ngày 30/4/1987 Đài chính thức được đặt tên là Đài Truyền Hình Việt Nam.
Ngày 1/1/1990: Bắt đầu phát sóng song song 2 kênh: VTV1 và VTV2. Tháng 2/1991 Bắt đầu phát sóng vệ tinh kênh VTV1 để các đài địa phương thu và phát lại nhằm phủ sóng toàn quốc. Tháng 4/1995 Bắt đầu phát chương trình VTV3, và chương trình này được tách thành 1 kênh riêng và được phát sóng vệ tinh vào tháng 3 năm 1998. Ngày 27 tháng 4 2000: VTV4 được chính thức phát trên mạng toàn cầu qua 3 quả vệ tinh phủ sóng toàn bộ châu Á, châu Âu, Bắc Phi, Bắc Mỹ và Tây Bắc Úc .

Tháng 3 /2001 Chuẩn DVB-T được chính thức chọn làm chuẩn phát sóng số mặt đất của VTV. Ngày 10/2/2002 Bắt đầu phát VTV5 phục vụ đồng bào thiểu số bằng tiếng dân tộc. Tháng 10/2004 Mạng DTH được chính thức khai trương song song với mạng truyền hình cấp và MMDS. Tháng 12/2005 Dịch vụ Internet băng thông rộng được chính thức khai trương trên mạng DTH và Truyền hình cáp.

2.     Chức năng nhiệm vụ của Đài truyền hình Việt Nam:

Đài Truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch vụ công; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình truyền hình.

2. Đài Truyền hình Việt Nam viết tắt bằng tiếng Việt là THVN; có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là: Vietnam Television, viết tắt là: VTV.

3. Đài Truyền hình Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động báo chí và tần số phát sóng.

Nhiệm vụ, quyền hạn

Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Trình Chính phủ quy định, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể, đổi tên các tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

2. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm và các dự án quan trọng khác của Đài Truyền hình Việt Nam thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt.

3. Lập kế hoạch, xây dựng, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và công bố tiêu chuẩn quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; xây dựng, công bố tiêu chuẩn cơ sở theo quy định tại Điều 20 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; lập kế hoạch, xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

4. Tham gia xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển của hệ thống truyền hình Việt Nam.

5. Chủ trì, phối hợp với các đài truyền hình, đài phát thanh – truyền hình địa phương về kế hoạch sản xuất các chương trình phát trên sóng truyền hình quốc gia.

6. Quyết định và chịu trách nhiệm về nội dung, chương trình và thời lượng phát sóng hàng ngày của Đài Truyền hình Việt Nam.

7. Quản lý trực tiếp hệ thống kỹ thuật chuyên dùng của Đài Truyền hình Việt Nam để sản xuất chương trình, truyền dẫn tín hiệu và phát sóng các chương trình truyền hình quốc gia trong nước và ra nước ngoài.

8. Quản lý các dự án đầu tư và xây dựng thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật, tham gia thẩm định các đề án, dự án quan trọng thuộc chuyên môn, nghiệp vụ được Thủ tướng Chính phủ giao.

9. Chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế tài chính của Đài Truyền hình Việt Nam phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định khác của pháp luật liên quan, đề nghị Bộ trư­ởng Bộ Tài chính ban hành.

10. Thực hiện cơ chế tài chính, lao động, tiền lương như doanh nghiệp nhà nước.

11. Hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật.

12. Quyết định dùng vốn nhà nước do Đài Truyền hình Việt Nam quản lý để đầu tư, thành lập doanh nghiệp sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

13. Đài Truyền hình Việt Nam là chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp do Đài quyết định thành lập và chủ sở hữu phần vốn góp tại các doanh nghiệp thuộc Đài theo quy định của pháp luật.

14. Quyết định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của Đài Truyền hình Việt Nam theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt.

15. Hướng dẫn các đài truyền hình, đài phát thanh – truyền hình địa phương về tên viết tắt bằng tiếng Việt, tên bằng tiếng Anh, tên viết tắt bằng tiếng Anh của các đài truyền hình, đài phát thanh – truyền hình địa phương và về nghiệp vụ, kỹ thuật truyền hình.

16. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành truyền hình theo quy định của pháp luật.

17. Tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ truyền hình.

18. Thực hiện hợp tác quốc tế với các đài truyền hình khu vực và thế giới về truyền hình theo quy định của pháp luật.

19. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, chỉ đạo thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Đài Truyền hình Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành.

20. Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền đối với các đơn vị trực thuộc.

21. Thực hiện chế độ báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan của Đảng, Nhà nước có thẩm quyền và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

3.     Truyền hình Việt Nam- Nhìn lại chặng đường phát triển:

Sau hơn 40  năm ra đời và có hoạt động gắn liền với sự nghiệp kinh tế chính trị của đất nước “ truyền hình quảng bá” đã  phát triển hệ thống mới – truyền hình trả tiền”. Hãy nhìn về sự nghiệp truyền hình Việt Nam trong thời gian qua.

Quan điểm của Việt Nam trên lĩnh vực truyền hình là phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững,  tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới  phù hợp với điều kiện Việt Nam,  sử dụng các phương thức, công nghệ truyền dẫn phát sóng phù hợp, hỗ trợ cho nhau, quan tâm thích đáng đến phương tiện thu xem đơn giản nhất của người dân đã có sẵn (phương tiện thu xem bằng Anten thông thường), đặc biệt, là các hộ có nhu cầu xem truyền  hình quốc gia tại các vùng tập trung dân cư với quy mô khác nhau.

Phát triển sự nghiệp truyền hình gắn kết các yếu tố nội dung, kỹ thuật, kinh tế, các đài truyền hình không ngừng đổi mới công nghệ truyền hình, hiện đại hóa hệ thống sản xuất chương trình, truyền dẫn phát sóng. Các đài đã tiến hành đào tạo nhân viên làm chủ kỹ thuật, phát triển truyền hình theo hướng hội tụ số với các dịch vụ  khác như viễn thông, Internet và các dịch vụ gia tăng khác. Đồng thời tiến hành xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình…

Chúng ta hãy nhìn vế quá khứ cách nay 44 năm. Buổi phát hình đầu tiên của Đài vô tuyến truyền hình Sài Gòn vào ngày 7-12-1966. Lần đầu tiên người dân Sài Gòn được trực tiếp xem truyền hình đen trắng do Đài truyền hình Sài Gòn phát lúc 19 giờ, truyền qua máy bay trực thăng. Đài phát sóng có công suất 225kw, bán kính hữu hiệu 75-90 dặm Anh (120-140km).

Chiếc máy bay trực thăng dùng để phát sóng là loại máy bay Dacota có tên là BLUE EAGLE (Đại Bàng Xanh) của quân đội Mỹ. Trên máy bay có một chiếc máy phát truyền hình, công suất 1kw do hãng RCA (Mỹ) chế tạo, một studio đọc tin với một Camera, một máy Film Chaine (hệ thống chiếu phim) và một máy video tape recorder (máy ghi phát hình video băng trần, viết tắt là VTR) loại 4 đầu từ, dùng băng lớn 2 inches ( 0mm). Thời lượng phát sóng trung bình từ máy bay là 2 giờ/ đêm, bắt đầu từ 19 giờ và kết thúc lúc 21 giờ.

 

Trong giờ phát sóng, máy bay BLUE EAGLE bay trên không phận Sài Gòn và vùng lân cận. Sóng phát đi từ anten Dipole đặt dưới bụng máy bay. Với tốc độ cao phát sóng vài ngàn mét, vùng thẩm hình khi đó rất rộng, gồm hầu hết các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Từ Phan Thiết đến Cần Thơ đều có thể thu rõ. Do phát hình từ máy bay nên sóng truyền hình rất dễ thu, không cần đến anten cồng kềnh phức tạp. Tuy nhiên, kiểu phát hình như vậy hết sức tốn kém, một đêm phát hình tối thiểu tốn 1.000USD. Có lẽ phát hình bằng máy bay như đã sử dụng ở Sài Gòn cũng là một trường hợp hiếm có trên thế giới.

Tại Hà Nội! ngày 7-9-1970 VTV đã chính thức phát sóng buổi đầu tiên cho đến nay đã tròn 40 năm góp mặt cùng sự thăng trầm của đất nước truyền hình đã có những bước phát triển vượt bậc.

Hiện nay, trên cả nước chỉ còn 01 địa phương chưa có mạng truyền hình cáp  là Lai Châu. Có 47 đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp.

Trong đó, VCTV là nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp lớn nhất trong cả nước với mạng truyền hình cáp của VCTV cung cấp tới 18 tỉnh, thành phố trong cả nước với trên 600.000 thuê bao, sau đó là SCTV đang cung cấp dịch vụ đến 8 tỉnh, thành phố với khoảng 550.000 thuê bao và HTVC đến 8 tỉnh, thành phố với khoảng 500.000 thuê bao. Hệ thống truyền hình cáp cả nước đang phục vụ khoảng trên 2  triệu thuê bao.

Vào tháng 9 năm 2003, lượng thuê  bao của hệ thống truyền hình trả tiền mới chỉ đạt con số khoảng 80.000 thuê bao tập trung tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Sáu năm sau, số thuê bao đã tăng hơn 20 lần. So với nhiều ngành dịch vụ khác, có thể nói kinh doanh hoạt động truyền hình trả tiền đang trở thành một trong những ngành kinh doanh có tốc độ phát triển nhanh. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn có tốc độ phát triển thuê bao nhanh với số lượng thuê bao truyền hình cáp lớn nhất trên cả nước với trên 1.000.000 thuê bao, tiếp sau là Hà Nội (gần 120.000 thuê bao), Đà Nẵng (gần 80.000 thuê bao), Hải Phòng (khoảng 70.000 thuê bao). Đài Truyền hình Việt Nam và Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện VTC hiện đang cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền bằng công nghệ DTH trên phạm vi cả nước với khoảng 130.000 thuê bao.

Có 4 đơn vị đang được cấp phép thử nghiệm cung cấp dịch vụ truyền hình giao thức Internet trên mạng viễn thông gồm: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel, Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện VTC và Công ty Cổ phần Viễn thông FPT. Tuy nhiên hiện chỉ có  Công ty Cổ phần Viễn thông FPT đang thực hiện thử nghiệm cung cấp dịch vụ IPTV trên diện hẹp với số lượng khoảng 10.000 thuê bao.

Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC, VTV, VOV, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Dương,  đang sử dụng công nghệ số mặt đất để cung cấp các chương trình truyền hình đến khoảng 2 triệu thuê bao.

Xét về lý thuyết, hiện nay, tại bất kỳ điểm nào của Việt Nam, người dân cũng có thể sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền (hoặc bằng công nghệ truyền dẫn cáp, DTH hay mặt đất kỹ thuật số). Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống truyền hình cáp chỉ mới tập trung phục vụ tại các khu vực thành phố, thị xã, thị trấn đông dân cư; diện phủ dịch vụ truyền hình cáp tại vùng nông thôn rất thấp và không có ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa với lý do cơ bản là do mật độ dân cư thưa thớt và thu nhập của người dân rất thấp không đủ để chi phí cho loại hình dịch vụ này.

Do chi phí trả cho việc hưởng thụ dịch vụ truyền hình trả tiền bằng công nghệ DTH còn cao so với mặt bằng thu nhập của người dân nên số lượng thuê bao chưa nhiều, mặc dù công nghệ truyền dẫn này không bị hạn chế về khoảng cách địa lý. Mức phí lắp đặt thiết bị thu tín hiệu DTH của VTV hiện nay là 1.940.000 đồng, VTC là 3.000.000 đồng, phí thuê bao DTH của VSTV là 800.000 đồng/năm và phí thuê bao DTH của VTC là 1.140.000/năm.

Mức phí lắp đặt của các mạng truyền hình cáp phổ biến ở mức từ 500.000 – đến 650.000/ thuê bao. Đà Nẵng là địa phương có mức phí lắp đặt cao nhất với 800.000đ/thuê bao, tiếp sau Bình Phước với 790.000/thuê bao. Mức phí thuê bao truyền hình cáp hàng tháng phổ biến ở mức 45.000 đến 55.000 đồng/thuê bao. Hòa Bình, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là những địa phương có mức phí thuê bao truyền hình cáp lớn hơn với các địa phương khác với mức phí từ 55.000 – 80.000 đ/ thuê bao/ tháng.

Sự chuyển mình từ truyền hình quảng bá để sản sinh thêm mô hình mới! truyền hình trả tiền. Chúng ta những người có trách nhiệm và có tâm, có tầm trong lĩnh vực nghệ thuật tổng hợp này đã trăn trở về hướng phát triển của nó. Đồng thời, lo ngại cho túi tiền của bà con nghèo. Vì thông tin tốt và hấp dẫn thường nằm trong những gói truyền hình trả tiền, có ấn định mức thu phí! Truyền hình Việt Nam cũng giống như truyền hình các nước trên thế giới là đối diện với thực tế Cơ hội và Thách thức!

II. Truyền hình Việt Nam- cơ hội và thách thức:

1.   Những thay đổi khi Việt Nam hội nhập :

Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một tất yếu khách quan, không thể tránh khỏi. Cơ hội từ việc gia nhập rất lớn, song vấn đề là VN cần phải chuẩn bị như thế nào để tận dụng được hết thời cơ và vượt qua thách thức. Gia nhập WTO là một đòi hỏi của thời kinh tế mở cửa và của thời đại toàn cầu hoá trên khắp thế giới, giúp VN gia nhập môi trường kinh tế thế giới vốn đang thay đổi hàng ngày dưới sức ép của thị trường và cạnh tranh khốc liệt. Đây là một tất yếu khách quan của hội nhập, không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là VN phải chuẩn bị gì cho cuộc đổ bộ lớn này. Theo tôi, Chính phủ VN cần chuẩn bị một hành lang pháp lý tốt, và phải có một cái nhìn thông thoáng hơn dựa trên các điều kiện của mình để điều chỉnh chứ không phải là ồ ạt

 

Toàn cầu hoá và hội nhập là quá trình vận động mang tính hệ thống và khách quan trên phạm vi toàn cầu, bao trùm tất cả các mặt đời sống kinh tế – xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới. Hiện tại, Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, điều này đánh dấu một bước phát triển cao hơn trong quá trình hội nhập – đây là kết quả tất yếu khi mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi mặt, tác động tới toàn bộ sự phát triển của mỗi quốc gia. Nước ta đang trong tiến trình đổi mới, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Trước bối cảnh lịch sử mới, chúng ta có những thời cơ mới song cũng phải đối mặt với những thách thức hết sức to lớn. Con đường phải vượt qua là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường. Trước tình hình đó, truyền hình đã có những bước phát triển mới nhưng đồng thời cũng phải đối diện với những khó khăn.

Liệu trong thế kỷ tới, truyền hình có còn như hiện nay không? Trả lời được câu hỏi này là chúng ta đã biết được tương lai của truyền hình trong kĩ nguyên số hoá.
Kể từ khi tín hiệu radio đầu tiên được phát sóng vào thế kỷ 18, con người vẫn luôn luôn theo đuổi một mục đích duy nhất là phủ sóng cho nhiều người trên một diện tích rộng. Từ xa xưa đến nay vẫn luôn tồn tại u mơ cháy bỏng của con người là vượt qua khoảng cách về thời gian và không gian  bị giới hạn bằng mắt và tai. Bởi vậy, người ta đã xây dựng rất nhiều trạm phát trên núi, nối liền các thành phố và thị trấn với nhau bằng những đường dây cáp như một tấm màng nhện khổng lồ, rồi sau đó đã tiến hành phóng vệ tinh vào quỹ đạo trái đất nhằm thực hiện ước mơ trên. Với những nỗ lực như  vậy, trong thế kỷ này, những người ở cách xa nhau nửa vòng trái đất đã có thể cùng xem và cùng suy ngẫm một vấn đề trong cùng một thời gian. Mắc Luhan gọi đó là ngôi làng toà cầu. Theo ông, camera và micro không chỉ đơn thuần là thiết bị điện tử, đó chính là biến thể( sự nối dài ) của con mắt và tai người, có khả năng thu nhận những sự kiện ở rất xa. Thông qua những biến thể này, một cá nhân có thể vượt qua được nền tảng chính trị cũng như văn hoá truyền thống của mình để cùng chia sẻ và thấu hiểu giá trị cũng như cách nhìn của những con người khác nhau trên thế giới. Những con người, những bộ tộc hoặc dân tộc đã lưu trữ lối sống cũng như  nền văn hoá của mình trong một phạm vi hẹp qua hàng ngàn năm, nay đã có thể gia nhập ngôi làng toàn cầu nhờ vào bản chất của sóng điện từ. Bản chất đó có thể mô tả là khả năng truyền đến rất nhiều người một thông điệp cùng một thời gian. Cho dù có sự khác nhau về địa lý, về văn hóa, về nghề nghiệp người ta vẫn có thể hiểu ít nhất là những vấn đề cơ bản trong bức thông điệp đó. Tuy vậy, ngày nay con người đang mất dần hứng thú với truyền hình và họ chờ đợi một cái gì hơn thế nữa. Nhu cầu của họ đang chuyển từ những vấn đề dành cho quảng đại dân cư sang những vấn đề dành cho những cá nhân riêng lẻ.

Hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ xây dựng một khuôn mẫu mới cho hoạt động thông tin liên lạc của con người. Ðó chính làmột môi trường phương tiện cho phép từng cá nhân liên lạc một cách thuận tiện vào bất kì lúc nào, bất kỳ ở nơi đâu qua phương tiện liên lạc trọn vẹn có chức năng hợp nhất mọi dạng phương tiện liên lạc. Sự ghép nối có tổ chức tạo nên sự linh hoạt giữa công nghệ mạng đang tạo ra một hệ thống liên lạc trọn vẹn mới cho phép vượt qua mọi trở ngại trong việc liên lạc giữa cá nhân với cộng đồng. Hệ thống mới này đồng thời cũng hợp nhất các phương tiện đã phát triển một cách độc lập với nhau trong quá khứ như : video, audio, text, liên lạc vô tuyến, hữu tuyến thành một phương tiện duy nhất. Chúng ta hãy xét xem môi trường mới với tên gọi là liên lạc trọn vẹn , sẽ thay đổi môi trường phương tiện hiện đại như thế nào?

Thứ nhất, việc liên lạc giữa cá nhân, tổ chức và quảng đại dân cư trước đây được thiết lập theo nhiều cách khác nhau nay sẽ được hợp nhất bằnh hình thức liên lạc trọn vẹn. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn khởi đầu của hình thức liên lạc trọn vẹn khi mà chức năng xử lý và lưu giữ thông tin do máy tính đảm nhiệm, khả năng nối mạng do Internet  đảm nhiệm, khả năng dịch vụ video do truyền hình đảm nhiệm và chức năng liên lạc do điện thoại đảm nhiệm.

Ngày nay người ta có thể nối máy thu hình hoặc máy tính của mình vào mạng Internet và liên lạc với những người khác bằng lời thoại hoặc thông điệp audio, video. Không chỉ có vậy, ngày nay chúng ta còn có thể đọc báo, tạp chí hoặc xem truyền hình qua Internet .

Thứ hai, khả năng hợp nhất liên lạc giữa mạng truyền dẫn có dây và không dây chỉ có thể thực hiện được qua mạng hợp nhất có chức năng ghép nối mạng. Trên cơ sở công nghệ số, mạng có dây và không dây sẽ thiết lập và duy trì mạng hợp nhất có chức năng ghép nối mạnh và trở thành mạng hạ tầng. Ðến lượt mình, mạng hạ tầng này sẽ cung cấp một môi trường hợp nhất có khả năng cung cấp đa dịch vụ cho người sử dụng.

Thứ ba, mục tiêu tương lai của dịch vụ phương tiện là các cá nhân chứ quảng đại dân cư. Người ta sẽ tiêu nhiều thời gian hơn cho những dịch vụ cung cấp thông tin cho họ vào thời gian và địa điểm mà họ đã định. Bởi vậy các phương tiện phải cung cấp nhiều và lựa chọn khác nhau và điều kiện phải phù hợp với thị hiếu cũng như mối quan tâm của từng cá nhân . đến đây sẽ chấm dứt thời kỳ truyền tải một chiều và đồng dạng( giống nhau).

Như vậy cái nỗi lo của các đài truyền hình lo lắng sự “đắt khách” của mình giảm thiểu đã được gạt bỏ. Đối thủ trước mắt chính là sự bùng nổ Internet. Số người giải trí trong không gian Internet ngày càng tăng. Tuy vậy cái bậc thang danh vọng mà truyền hình chiếm giữ bao lâu nay đâu dễ dàng từ bỏ. Với hệ thống âm thanh vòng (nhà hát tại gia) và màn hình phẳng long lanh truyền hình vẫn đang ngày càng thu hút người xem.

a.     Cơ hội để Việt Nam tiến nhanh, mạnh, kịp với tiến độ phát triển của thế giới:

Sự kiện nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chứng tỏ sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thay đổi tích cực, to lớn và toàn diện trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của Ðảng ta. Sự kiện này có ý nghĩa sâu sắc về chính trị, kinh tế, xã hội; khẳng định vị thế ngày càng cao của đất nước ta trên thế giới; thể hiện rõ ý chí của toàn Ðảng, toàn dân ta quyết tâm xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ, ổn định về chính trị, đồng thuận về xã hội, xứng đáng là một trong những nền kinh tế phát triển năng động, sẵn sàng thực hiện các cam kết chung với cộng đồng quốc tế. Riêng đối với lĩnh vực văn hóa, sự kiện này cũng có những tác động thuận – nghịch to lớn đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp hành động kịp thời và hiệu quả.

Việc nước ta gia nhập WTO có thể nói, đang và sẽ đem lại cho chúng ta những cơ hội phát triển to lớn cũng như những thách thức gay gắt. Khái niệm “cơ hội” hay “thách thức” cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Có cơ hội mà bỏ qua, để tuột khỏi tay thì cơ hội cũng bằng không. Gặp thách thức mà biết chủ động đón nhận, khôn khéo và quyết tâm vượt qua, thì thách thức lại trở thành cơ hội để phát triển.

Cơ hội lớn nhất mà sự kiện nói trên đem lại cho chúng ta là từ nay nước ta đã có thể tham gia các thị trường thế giới (về vốn, hàng hóa, dịch vụ…) với tư cách một thành viên bình đẳng, không bị phân biệt đối xử. Khi các rào cản bị xóa bỏ, xuất khẩu nước ta sẽ có điều kiện tăng nhanh, dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào nước ta dự báo sẽ có chiều hướng tăng đột biến; từ đó kinh tế sẽ tăng trưởng mạnh mẽ, có thêm việc làm, thu nhập của nhân dân sẽ tăng, nhu cầu về nguồn thông tin trên thế giới cũng sẽ tăng nhanh. Ðây chính là một trong những tiền đề cần thiết khích lệ truyền hình đa phương tiện phát triển, thúc đẩy việc sáng tạo các sản phẩm của phương tiện truyền thông như truyền hình phát triển lên một tầm cao mới. Nhờ sự kế thừa và áp dụng nền khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới mà các hình thức truyền hình cũng được cải thiện phần nào, xuất hiện một loạt các loại truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số…-  Điều này góp phần làm cho đời sống văn hóa, nhận thức của con người được nâng cao hơn, những hình ảnh âm thanh sống động của truyền hình làm cho người xem như được sống lại, chìm đắm trong khung cảnh đang chiếu, hang ngày nguồn thông tin quan trọng, nóng hổi được dư luận quan tâm nhất luôn được truyền hình đưa đến cho độc giả một cách chính xác, nhanh nhất, giúp cho người xem có những phản ứng kịp thời với thời thế…

Chúng ta cũng có cơ hội nhiều hơn để giới thiệu với bạn bè khắp năm châu những vẻ đẹp đẹp văn hóa, đời sống của dân tộc thông qua các phương tiện truyền thông như truyền hình số, góp phần làm phong phú nền văn hóa chung của nhân loại. Hội nhập mạnh mẽ với thế giới, chúng ta có dịp soát xét lại cơ chế, chính sách trên lĩnh vực văn hóa xem có gì lỗi thời cần sửa đổi cho phù hợp thông lệ, chuẩn mực thế giới mà vẫn tuân thủ những nguyên tắc của chúng ta

b.    Thách thức đặt ra trong lĩnh vưc truyền hình:

Truyền hình Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới, nước ta lại bị gián đoạn quá trình phát triển liên mien do chiến tranh, đi lên từ một nước nông nghiệp… cho nên lĩnh vực truyền hình cũng đã phải trải qua những chặng đường khó khăn nhất để tiến tới được như ngày hôm nay.

Truyền hình việt nam bắt đầu phát triển trong khi các nước tây âu đã trải qua thời kỳ phát triển đơn giản nhất, những nguồn thông tin, cách xử lý thông tin, rồi sự cạnh tranh khốc liệt của các loại hình truyền thông đa phương tiện khác…  đặt truyền hình vào tình thế khó khăn hơn, Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn.

2.     Xu hướng chung của thế giới tác động đến truyền hình Việt Nam:

“Xu hướng” có nghĩa là xu thế thiên về một chiều nào đó. Sự thiên về những hoạt động nào đó nhằm một mục tiêu có ý nghĩa đối với bản thân trong một thời gian lâu dài.

Từ định nghĩa đó, ta có thể hiểu Xu hướng báo chí đó là xu thế thiên về một chiều hướng nào đó của báo chí truyền hình, có mục tiêu, ý nghĩa và ảnh hưởng trong thời gian dài.

Truyền hình từ ngày đầu ra đời đã liên tục có những thay đổi để tiến xa hơn. Từ tờ báo chỉ là những bản chép tay rồi đến những bản báo in đầu tiên và phát triển cho tới đa phương tiện như ngày nay, tất cả điều đó đều là kết quả của quá trình phát triển lâu dài với nhiều thách thức. Tùy theo điều kiện lịch sử và xu hướng của công chúng, hệ thống báo chí truyền hình có những bước đi riêng của mình để đáp ứng lại những điều đó. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, báo chí truyền hình cũng chịu phần nào.

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v. trên quy mô toàn cầu.

Toàn cầu hóa thông tin đó là quá trình thông tin ở khắp mọi nơi trên thế giới được truyền tải liên tục, nhiều chiều và dễ dàng tới cho công chúng.

Ngày nay, ở bất kì đâu bạn cũng đều có thể nắm bắt được toàn bộ thông tin của thế giới trong ngày qua. Đó là kết quả của quá trình toàn cầu hóa thông tin. Thông tin tại mọi ngóc ngách của trái đất được các hãng truyền thông cung cấp một cách nhanh chóng và chính xác tới cho mỗi công dân. Bạn đang ngồi ở nhà và có thể theo dõi tình hình đang diễn ra ở Iraq hay ở Mĩ, hay như tình hình giá xăng dầu trên thế giới hiện nay… điều sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của bạn ảnh hưởng.

Biểu hiện rõ nhất là việc hình thành rất nhiều hãng thông tấn, hãng tin chuyên khai thác tin tức trên khắp thế giới rồi bán lại cho các cơ quan thông tấn trên thế giới. Với sự chuyên biệt này, các cơ quan báo chí chỉ cần mua lại tin từ các hãng thông tấn đó là có thể có đủ tin tức trên thế giới cung cấp cho công chúng của mình.

Biểu hiện thứ hai đó là thông tin ở mọi nơi được cập nhật liên tục và nhiều chiều. Nếu như trước kia, chỉ những thông tin quan trọng và có ảnh hưởng lớn mới được đề cập, thì ngày nay những thông tin về những con người bình thường ở mọi nơi đều có thể được nhắc tới. Thông tin về những nhân vật nổi tiếng không còn chỉ là thông tin riêng của một quốc gia mà đã trở nên nguồn tin nóng cho những người quan tâm trên thế giới.

Không thể phủ nhận những thành tựu của công cuộc toàn cầu hóa thông tin đem lại. Truyền hình, phát thanh, internet, báo chí đã và đang tác động về tình cảm, tư tưởng của công chúng tiếp nhận thông tin, bất kể khoảng cách từ họ tới nguồn thông tin là bao nhiêu. Sự kết hợp giữa thông tin toàn cầu và lợi ích khu vực làm cho hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trở nên hữu hiệu hơn nếu xét từ góc độc hình thành và thao túng công luận

Trong bối cảnh thông tin toàn cầu đang phát triển, các tập đoàn truyền thông, các cơ quan báo chí đều muốn đẩy mạnh ảnh hưởng của mình tở các quốc gia khác. Chính vì vậy mà họ cố gắng đưa tờ báo của mình ra khỏi khuôn khổ của một quốc gia.

Quốc tế hóa báo chí là hình thức mà một tờ báo, ấn phẩm báo chí được phát hành ở nhiều quốc gia, hoặc phát hành ở quốc gia này nhưng được bán ở quốc gia khác.

Lợi thế của thông tin trong lĩnh vực truyền hình đó là sử dụng hình ảnh

Xu thế nhiều đài truyền hình trên thế giới phát các chương trình truyền hình đối ngoại

Tăng cường các chương trình phát hình gắn với lồng tiếng hoặc có chữ dịch hiện trên màn hình

Hình thành nhiều đài truyền hình của khu vực, đài truyền hình cho châu lục, hoăc đài của các tập đoàn báo chí dành riêng cho khu vực

Thương mại hóa báo chí Đó là một quá trình mà các cơ quan báo chí tìm cách tăng thu nhập cho mình bằng các hoạt động kinh tế khác bên cạnh việc kinh doanh các loại hình báo chí thông thường. Đó có thể là các hoạt động quảng cáo cho các sản phẩm, thâu tóm các khâu trong quá trình làm báo: in ấn, phát hành… phát triển thêm các dịch vụ giá trị gia tăng trên tờ báo hoặc cũng có thể tham gia và các lĩnh vực kinh tế khác.

Sau cuộc “cách mạng thương mại” những năm 1830 – 1840, các phương tiện thông tin đại chúng trở thành những doanh nghiệp tư bản sinh lời, vì vậy bản thân chúng cũng chịu sự tác động của tất cả các quy luật của hoạt động kinh doanh: cạnh tranh và hạn chế cạnh tranh, tập trung hóa, độc quyền hóa và những luật lệ khác. Tất cả những điều đó để lại dấu ấn trong hoạt động báo chí hằng ngày và hoạt động của những tổ chức hữu quan

Trong lĩnh vực truyền hình, những chương trình mang tính thương mại cũng phát triển, dưới hình thức tài trợ cho các chương trình, quảng cáo đã len lỏi vào công chúng. Đài truyền hình Việt Nam cũng thành lập một trung tâm quảng cáo riêng: Tvad chuyên sản xuất các đoạn phim quảng cáo trên sóng truyền hình.

Những khoản thu tài chính từ quảng cáo

Những khoản thu nhờ bán báo, phát sóng…

Những khoản thu từ các hoạt động thương mại dưới các hình thức khác

Những khoản tiền đóng góp từ bên ngoài.

Và nền tảng cho những khoản thu bằng tiền này là khoản thu từ quảng cáo đem lại.

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng căn bản đến các phương tiện thông tin đại chúng ngày nay, đến các hình thức và phương pháp hoạt động của các nhà báo. Nhà nước tăng cường vai trò của mình. Chính sách của nhà nước cũng có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của các loại hình thông tin đại chúng.

Truyền hình là một thể loại sử dụng hình ảnh và âm thanh để tạo nên thông tin cung cấp cho khán giả. Từ khi ra đời và phát triển đến nay, truyền hình vẫn luôn tận dụng được những lợi thế của mình để cung cấp hình ảnh của thế giới cho công chúng. Các đài truyền hình trên thế giới vẫn đang nỗ lực để cải tiến chương trình của mình để cạnh tranh với các loại hình truyền thông khác đồng thời cung cấp cho công chúng những tin tức tốt nhất, nóng nhất của thế giới xung quanh.

Truyền hình khác với các loại hình khác ở chỗ nó đòi hỏi phải có hình ảnh và âm thanh kết hợp, điều đó dẫn tới công nghệ đi theo nó cũng phải cao hơn, đầu tư tốn kém hơn. Để thực hiện một tin tức truyền hình thì ít nhất cũng phải có 2 người cùng hợp tác: một phóng viên và một quay phim.

Trong xu thế cạnh tranh ngày nay, khán giả đã chán ngán những tin tức khô khan, chậm chạp… do đó nhiều đài truyền hình ở Mỹ đã phát triển rất nhiều chương trình truyền hình trực tiếp, những chương trình tin nóng phát trực tiếp từ hiện trường. Rất thường gặp những chương trình đang phát dở thì bị cắt ngang bởi những “tin nóng”… tại hiện trường một sự việc nào đó, ta sẽ thấy một phóng viên đang dẫn hiện trường tường thuật trực tiếp những gì đang diễn ra xung quanh họ… khán giả trước màn hình tivi sẽ cảm thấy tò mò và chăm chú theo dõi. Đó là một bước đi mới để chinh phục khán giả.

3.     Thách thức và giải pháp cho truyền hình

a.     Thách thức của truyền hình ngày nay

Sự ra đời của internet kéo theo những biến đổi to lớn của lĩnh vực truyền thông đại chúng. Rất nhiều dự đoán về tương lai của ngành truyền thông sẽ thuộc về loại hình này, với ưu thế vượt trội của nó là đa phương tiện và tính tương tác. Theo khảo sát của hãng nghiên cứu thông tin Nielsen (Mỹ) cho thấy: việc sử dụng internet và các dịch vụ trên mạng trong các gia đình đã chen vào thời gian xem truyền hình của họ. Các gia đình nối mạng internet trung bình giảm 13% thời gian theo dõi truyền hình khoảng 1 tiếng mỗi ngày so với các gia đình khác. Đây là kết quả khảo sát 5000 gia đình ở Mỹ trong năm 2000. Nhiều con số thống kê khác cho thấy: khán giả thường xuyên của màn ảnh nhỏ cũng bắt đầu giảm dần, kể từ khi họ bị lôi cuốn bởi máy tính và internet, đặc biệt là lớp trẻ. Ông Marshal Cohen, chuyên gia thẩm định thông tin của hãng truyền hình AOL – Turner nhận định rằng: “Con người đang thay đổi, thoát khỏi sự quyến rũ của các chương trình truyền hình. Họ thích tự nghiên cứu và tiếp cận với thông tin hơn là bị chi phối bởi thông tin”.

Mặc dù mới chỉ là những nhận định như trên và tính dự đoán còn ở phía trước, cũng như sự thay đổi chưa mang tính bước ngoặt nhưng người ta cũng bắt đầu lo ngại trước sức mạnh của internet. Chính vì vậy, tương tự như lịch sử của việc kết hợp nhiều loại hình báo chí trong vòng kiểm soát của một ông chủ hay một tập đoàn tư bản trước đây, thì nay, các hãng truyền hình lớn cũng muốn xích lại gần các công ty dịch vụ internet bằng hàng loạt những hợp đồng chuyển sở hữu hay sáp nhập. Mục tiêu nhằm “lập chiến lược đúp để vươn tới khách hàng, cung cấp cả truyền hình và sản phẩm tương tác (tức các dịch vụ internet) cho mọi đối tượng tiêu dùng, từ trẻ em đến người lớn, mọi tầng lớp khán giả truyền hình” – theo như lời của Ringo Chan – giám đốc chi nhánh của Turner Internationl tại Hồng Kông (Công ty mẹ của CNN) khẳng định.

Mạng lưới truyền hình của Mỹ cũng đã tung ra đòn phản công phù đầu chống lại các đối thủ đe dọa của mình. Qua một loạt giao dịch mua bán nhanh chóng, các hãng truyền hình nước này đã thôn tính nhiều công ty internet nhằm tạo dựng một vị trí tốt trong bối cảnh truyền thông mới, các website trên mạng. Những vụ mua bán này đều phản ánh mong muốn kéo lại khán giả đang trôi về môi trường tương tác, đa màu sắc trên web. Mặc dầu vậy, tất cả mới dừng lại ở mục đích tranh giành thị phần, khán giả và quảng cáo.

Trên thực tế, hiện nay và tương lai, internet khó có thể gây nguy hại cho đời sống báo chí nói chung và truyền hình nói riêng. Trong vòng 10 năm qua, kể từ khi bùng nổ internet, số lượng phát hành, lợi nhuận từ quảng cáo trên báo in vẫn không ngừng tăng lên, kể cả ở những nước có điều kiện phát triển internet như Mỹ, Châu Âu. Với truyền hình, nhìn bề ngoài có vẻ bị suy yếu vì lượng khán giả ngày một giảm, nhưng trên thực tế, các tập đoàn truyền hình lớn vẫn rất sung sức. Truyền hình vẫn là phương tiện truyền thông phổ cập nhất, đặt dưới sự kiểm soát của các tư bản kếch xù và lâu đời, trong khi nhiều công ty internet còn quá non trẻ và kinh doanh vẫn thua lỗ.

Mặt khác, theo tài liệu phân tích của tổ chức phát thanh – truyền hình châu Á – Thái Bình Dương (ABU) thì chất lượng audio, video qua internet hiện nay vẫn còn là vấn đề cần xem xét. Âm thanh trên internet mới chỉ dừng ở mức độ “nghe được”, còn xa mới có thể đạt chất lượng cao. Hình ảnh qua internet thường có khuôn hình bằng 1/16 toàn bộ màn ảnh, chất lượng kém và chỉ truyền được 6 hình/giây. Nếu so sánh với internet thì truyền hình chỉ thua kém ở mặt tương tác. Tuy nhiên trong tương lai, khi truyền hình tương tác (interactive television) hoàn thiện hệ thống và phổ cập thì gần như ranh giới giữa truyền hình và internet sẽ rất mờ nhạt, khi mà chúng trộn lẫn vào nhau. Những tham vọng và toan tính kể trên của các hãng truyền hình lớn nhằm thâu tóm các công ty internet cũng chính là để chuẩn bị cho tương lai đó.

b.    Giải pháp cho truyền hình

Trước mắt, người ta tạm bằng lòng với những website trực tuyến mà tất cả các hãng truyền hình được phát sóng và những thông tin bổ sung được truyền tải trên mạng theo một cách thức khác, đã khiến cho truyền hình ngày càng phát huy sức mạnh của nó. Người ta tìm đọc những thông tin về một sự kiện nào đó được đưa trên mạng và nảy sinh nhu cầu xem hình ảnh về sự kiện đó trên truyền hình. Ngược lại khi xem truyền hình, khán giả bị lôi cuốn và thôi thúc tìm hiểu về tin tức đó kĩ hơn bằng cách truy cập vào internet. Và thật khéo là, không chỉ bổ sung cho nhau về mặt thông tin, cách thức tiếp cận thông tin mà hai loại hình này luôn biết cách quảng cáo cho nhau theo nghĩa đen của từ này, vì xét cho cùng, chúng đều thuộc về một hãng mà thôi. Có thể kể tên hàng loạt các website của các hãng lớn như là CNN.com, BBC.com, ABCnews.com, NBCi.com…

Danh mục các chương trình truyền hình luôn được chuyển tải trên mạng, thể hiện đầy đủ trên thanh công cụ của các trang web. Khi truy cập vào đây người đọc sẽ tiếp cận sâu hơn những vấn đề đã hoặc sẽ phát sóng. Phát huy ưu thế tương tác của mạng trực tuyến, các website này luôn có diễn đàn để người truy cập tham gia bàn luận sâu hơn về các sự kiện. Ví dụ như trong thời điểm xảy ra sự kiện 11/9/2001 tại Mỹ, trang web ABC.news.com đã xây dựng hẳn một diễn đàn trao đổi ý kiến trực tiếp với tên gọi: “Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ, Tại sao? Tại sao?”. Chỉ sau 3 ngày, số lượng thông tin trao đổi đã lên quá con số 3 triệu.

Tuy nhiên xu hướng hợp tác, hợp nhất giữa truyền hình và internet không dừng lại ở đó, cũng không chỉ khởi nguồn theo ý đồ của các tập đoàn truyền hình lớn. Đó còn là tham vọng của các công ty tin học khổng lồ mà tiêu biểu nhất là Microsoft. Bill Gates, chủ nhân của tập đoàn này nhân thấy rằng: trong tương lai, nếu muốn giữ sự phát triển thần kỳ của Microsoft thì nhất thiết phải nắm giữ lấy thị trường mà các nhà sáng chế của ông gọi là không gian truyền hình (television space). Vấn đề là ở chỗ, trong thị trường đó, ông sẽ chiếm một vị trí lớn đến mức nào.

Báo chí phương Tây ví sự hợp tác, hợp nhất giữa truyền hình và internet là một cuộc hôn phối giữa hàng loạt các tập đoàn truyền thông – truyền hình nắm trong tay quyền lực thông tin và các công ty tin học với ưu thế to lớn về công nghệ. Trong cuộc cạnh tranh nhằm thâu tóm tương lai của ngành truyền thông, phần thắng có thể thuộc về ông Bill Gates hay ông Ted Turner, đồng nghĩa với việc truyền hình lợi dụng Internet để phát triển hoặc ngược lại. Song đây là xu hướng có tính tất yếu, nếu xét trên phương diện khoa học công nghệ thuần túy. Bởi đó là sự kết hợp của một loại hình truyền thông tương tác với một phương tiện báo chí nghe nghìn để thực sự trở thành truyền thông đa phương tiện.

Người ta đã nhìn thấy: trong tương lai gần, chiếc máy thu hình thông thường hiện nay sẽ trở thành lạc hậu, thay vào đó là các thiết bị đa phương tiện – multimedia, tiện lợi và đa dụng hơn nhiều. Đó là một máy tính đa chức năng: tính toán, soạn thảo văn bản, tra cứu thông tin, đánh cờ, chơi điện tử, viết và nhận email và xem hàng trăm kênh truyền hình. Khi xem truyền hình nhiều kênh, khán giả chẳng cần bấm nút chuyển kênh liên hồi vì bên tay phải của màn hình sẽ có hàng loạt màn hình mini, hiển thị cho bạn biết kênh nào hiện đang chiếu gì, và lúc đó bạn sẽ dễ dàng lựa chọn. Ví dụ như khi bạn đang xem bóng đã, bạn chỉ cần bám điều khiển từ xa để hiển thị một khuôn hình nhỏ, giống như trên internet nằm hai bên lề màn hình, không chiếm diện tích lớn và vẫn đủ để bạn theo dõi bóng đá. Tuy đồng thời làm các việc như trên, người ta vẫn thao tác nhiều việc khác: khai thác thông tin về một cầu thủ nào đó từ trang web hay xem lại một vài pha gay kết hay kết quả các trận đấu khác, trao đổi cùng bạn bè hay xem một bản bình luận mới cập nhật.

Tuy nhiên sự hội nhập giữa truyền hình và internet không có nghĩa biến truyền hình thành một thứ hình ảnh động được chuyển tải trên mạng và hòa tan và đó. Về bản chất, mặc dù cả hai loại hình dều mang tính báo chí và giải trí. Song chiếc máy vi tính  là phương tiện để làm việc, trong khi máy thu hình còn là một sản phẩm văn hóa của gia đình. Máy thu hình sẽ được nối mạng internet nhưng sẽ không làm nhiệm vụ giống máy tính, việc sử dụng sẽ dễ dàng hơn và dịch vụ của nó đơn giản hơn. Như vậy trong gia đình vẫn sẽ có cả hai loại máy kỹ thuật tương đối giống nhau. Khi đó, máy thu truyền hình sẽ đảm bảo việc quản lý hàng trăm kênh truyền hình, những dịch vụ như: mua hàng qua truyền hình, các trò chơi truyền hình, kiểm tra tài khoản ngân hàng… Còn máy tính sẽ đảm nhiệm các chức năng phức tạp hơn như xử lý, quản lý thu nhập gia đình, xử lý văn bản, hội thảo, hội nghị qua mạng, xử lý hình ảnh…

Cũng như tốc độ phát triển của internet, người ta dự đoán rằng chỉ trong vòng một thập kỷ tới, một thế hệ truyền hình thông minh sẽ quen thuộc với nhiều gia đình. Với công nghệ sản xuất các màn hình cực mỏng, bạn có thể treo trên tường mỗi phòng một máy thu hình như một bức tranh treo tường. Bạn chỉ cần ngồi trên ghế, nói lên bạn muốn gì, toàn bộ hệ thống này sẽ thực hiện ý muốn của bạn: tìm chương trình bạn thích xem, ghi lại các chương trình chưa kịp xem, xem tin tức mới cập nhật…

Với sự cạnh tranh khốc liệt từ các loại hình báo chí khác, đặc biệt là từ internet, truyền hình cần phải tự thay đổi bản thân mình để đáp ứng được yêu cầu của công chúng hiện đại cũng như tự cứu sống bản thân mình. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng tin bài, chất lượng phát sóng… thì một yêu cầu đặt ra cho truyền hình là phải tạo ra được những chương trình mới hấp dẫn khán giả. Ta có thể thấy một vài thay đổi của truyền hình trong tương lai.

Tuy nhiên truyền hình Việt Nam vẫn loay hoay vi mức độ cập nhật thông tin chưa cao, truyền hình theo kiểu mua lại các trò chơi, gameshow của nước ngoài. nội dung các chương trình truyền hình như Khởi nghiệp, Làm giàu không khó, Sức sống mới (VTV), Nói và làm, Chào buổi sáng, Tôi và chúng ta (HTV), Talk 9 (VTC1), Talk Vietnam (VTV4)… gần đây không còn nằm trong phạm vi “đóng” của một kịch bản khô cứng dựng sẵn mà đã “mở” ra cho khán giả cùng tham gia chia sẻ, đóng góp ý kiến, thậm chí đưa ra những câu hỏi, vướng mắc mà người xem bất bình, không đồng ý.

Ở chương trình bình luận thể thao trên VTV3, những tin nhắn góp ý, bình luận nội dung các MC đang nói hay dự đoán của khán giả được hiển thị phía dưới màn hình tivi ngay khi chương trình đang phát sóng trực tiếp. Chương trình Nói và làm hằng tháng trên Đài Truyền hình TP.HCM thu hút nhiều người xem bởi chương trình này như một phiên chất vấn thu nhỏ của đại biểu HĐND TP với lãnh đạo các quan chức, ban ngành về các chuyện vừa sát với đời sống, vừa mang tính thời sự như đất đai, giáo dục, nhà ở…

4.     Những chương trình truyền hình của Việt Nam mạnh và yếu:

a.     Truyền hình thực tế:

Truyền hình thực tế vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Đầu năm 2005, VTV3 xuất hiện Khởi nghiệp và ngay lập tức thu hút người xem mỗi tuần. Đây có thể được coi là show truyền hình thực tế tiên phong tại Việt Nam. Cũng trong năm này, Vượt lên chính mình, Ngôi nhà mơ ước (HTV thực hiện) – một dạng truyền hình thực tế khác – ra mắt.

Đến năm 2006, Phụ nữ thế kỷ 21 mới thật sự là chương trình truyền hình thực tế đúng nghĩa đầu tiên tại VN. Ngay khi ra mắt bạn xem đài, chương trình đã tạo được sự chú ý bởi tính tươi mới, chân thật và thẳng thắn. Tuy là một cuộc thi truyền hình nhưng các thí sinh (TS) được thoải mái bộc lộ quan điểm và cá tính, những điểm mạnh và cả điểm yếu của mình để từ đó phác họa nên những nét độc đáo của phụ nữ thế kỷ ngày nay.

Sau Phụ nữ thế kỷ 21 có thể kể đến Ước mơ của tôi, Vui là chính, Thần tượng âm nhạc – Vietnam Idol. Và tháng mười tới, HTV cũng sẽ phát sóng “Funny video home” (bản quyền của Mỹ) với những tình huống hài xảy ra trong gia đình do khán giả tự quay và gửi đến. Đây sẽ là chương trình “mồi” để các khán giả VN gửi những video clip tương tự về gia đình mình cho đài biên tập và phát sóng.

Dẫu biết truyền hình thực tế từng tạo được nhiều thiện cảm và thành công ngoài mong đợi ở nước ngoài, nhưng khi chọn một chương trình làm vừa lòng người Việt thật không dễ. Như Vui là chính khi mới vào VN cũng bị phản đối kịch liệt vì một số chương trình không phù hợp với thuần phong mỹ tục. Phụ nữ thế kỷ 21 năm ngoái bị chê là cứng nhắc trong việc biến các TS thành những “nữ cường nhân” bất đắc dĩ.

Người Việt nhìn chung hiền hòa, chân tình nhưng không phải ai cũng đủ cởi mở và tự tin để tham gia các show truyền hình thực tế. Các TS và cả khán giả VN phần lớn vẫn chưa dạn ống kính, không quen bày tỏ bản thân, quan điểm trước bàn dân thiên hạ.

Nhưng ngay cả khi những người trong cuộc dám thẳng thắn nói lên chính kiến của mình thì công chúng cũng chưa hẳn đã chấp nhận. Dư luận rất hay khen – chê vu vơ nhưng lại thờ ơ, ngần ngại trong việc tham gia “cuộc chơi” (nhắn tin bình chọn, gửi ý kiến góp ý, tham gia diễn đàn trên trang web của chương trình… ) cũng chính là rào cản cho việc phát triển truyền hình thực tế tại VN.

b.    MC truyền hình cần phải thay đổi cho hiện đại mới mẻ để khắc phục sự nhàm chán

để truyền hình việt Nam có chỗ đứng vũng chắc, lượng khan giả đón xem đông đảo thì MC truyền hình cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng làm nên thành công của một chương trình. MC – cầu nối không thể thiếu của chương trình, đặc biệt là những chương trình mới toanh, với khán giả – cũng là vấn đề gây đau đầu cho các nhà sản xuất. Hầu hết những show THTT thành công ở nước ngoài đều mang đậm dấu ấn của MC.

Tại VN, thật không dễ để tìm kiếm ra một MC năng động, thông minh, dí dỏm, nhạy cảm, giỏi ứng biến… (tiêu chuẩn để dẫn một show truyền hình thực tế). Vì vậy hiện tại vẫn chưa có MC nào của các show THTT tại VN chiếm được nhiều cảm tình của bạn xem đài, giúp người xem tiếp cận với thể loại mới mẻ này một cách “ngọt ngào” nhất.

   c.  Truyền hình Việt Nam khó khăn về nguồn tài chính:

Các nhà sản xuất chương trình “than” làm truyền hình thực tế tốn kém và vất vả gấp 5 – 6 lần những show giải trí khác. Như show Phụ nữ thế kỷ 21 năm ngoái tiêu tốn trên 500.000 USD (tiền bản quyền, thực hiện, quảng bá, giải thưởng…) nhưng không thành công lắm về mặt thương mại: rating (lượng người xem) chưa cao như mong đợi và số spot quảng cáo trong chương trình cùng lượt người nhắn tin bình chọn chỉ đạt mức vừa phải.

Nhà tổ chức cho biết họ mất khoảng nửa năm để chuẩn bị và thực hiện chương trình. Riêng phần dựng, hậu kỳ đã tốn đến hai tháng. Chương trình được quay tại nhiều thành phố khác nhau như Quảng Ninh, Nha Trang, TP.HCM… Và có 3 – 4 nhóm quay cho một nội dung để bắt đủ mọi hình ảnh, góc độ, cảm xúc… của TS.

Còn với VN Idol, số spot quảng cáo giữa chương trình chỉ mới tăng từ vòng Gala. Ba vòng trước đó (thử giọng, nhà hát, piano) kéo dài suốt hai tháng, cũng chỉ có “người nhà” (các nhãn hàng thuộc Tập đoàn Unilever như Clear, Lipton, Close up… ) quảng cáo giữa chương trình.

Tuy chưa thống kê được con số đã chi nhưng VN Idol cũng tốn công, tốn của và nhân lực đáng kể. Chương  trình đã đi qua bốn thành phố lớn: Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM và Cần Thơ. Êkip thực hiện chính khoảng 100 người. Mỗi một tiết mục cũng có 6-7 nhóm quay. Vòng nhà hát được coi là “vòng kinh hoàng” khi các TS và êkip thực hiện phải làm việc từ 10g-2g, 3g sáng hôm sau trong ba ngày liên tục.

Tính đến thời điểm hiện tại, các chương trình truyền hình thực tế ở VN vẫn chỉ ở mức quảng bá cho một nhãn hàng, một thương hiệu công ty chứ chưa đủ mạnh để tạo nên một trào lưu hay cơn sốt giải trí như game show từng có được. Vì thế, THTT vẫn chưa cho thấy sức ảnh hưởng và tài lộc thu được từ… thực tế. Tuy thế, đó vẫn là “món” hấp dẫn và chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều vào thời gian tới.

“Theo tôi, thói quen chỉ xem hình cho vui mắt của công chúng là thói quen đã qua… Ngày nay, công chúng chú ý xem truyền hình tương tác để mong giải quyết được những vấn đề gì mà họ đang quan tâm. Các chuyên mục như “Đối thoại”, “Chính sách – cuộc sống”, “Sự kiện – bình luận”, gần đây có “Người xây tổ ấm” trên VTV (đi sâu vào “tế bào” gia đình với nhiều tình huống chạm trán thử thách trong cuộc sống đời thường)… được người xem gọi điện thoại, gửi thư hoặc email rất đông” – nhà báo Trường Phước (công tác tại ban chuyên đề của Đài truyền hình VN) nhận xét.

5.     Sự cạnh tranh giữa các kênh truyền hình với nhau:

a.     Truyền hình trả tiền đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn

Trong tương lai, tại Việt Nam, truyền hình quảng bá sẽ không còn là số 1 mà vị trí ấy thuộc về truyền hình trả tiền. Với truyền hình cáp VCTV của Đài THVN, cơ hội để phát triển đang rộng mở với nhiều lợi thế về cả truyền thống, vị thế và hệ thống truyền dẫn.

Tuy nhiên, nếu không nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ thì rất có thể, những lợi thế ấy sẽ giảm đi nhanh chóng trước sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều đối thủ. Đây cũng là những vấn đề được nhiều đại biểu đề cập trong Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 của Ban Biên tập TH cáp. Tới dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2010 của Ban Biên tập TH cáp có PTGĐ thường trực Trần Đăng Tuấn, PTGĐ Đinh Quang Hưng, đại diện lãnh đạo nhiều đơn vị trong Đài, thành viên của Hội đồng nghiệm thu, đại diện các đoàn thể.. cùng đông đảo cán bộ, viên chức, người lao động của Ban Biên tập TH cáp.

với ‘tư duy mở’ và ‘văn hóa công ty’, Ban Biên tập TH cáp có một nền tảng tốt để xây dựng một đội ngũ nhân sự mạnh, chuyên nghiệp, hướng tới những mục tiêu lớn trong thời gian tới. Với đội ngũ gồm: 151 biên chế và hợp đồng dài hạn, 128 CTV và các nhân lực của các đối tác xã hội hóa, Ban Biên tập TH cáp đã hoàn thành khối lượng công việc lớn trong năm 2009. Ban đã quản lý 14 kênh TH tiếng Việt (trong đó có 5 kênh đã xã hội hóa), làm phụ đề và giám sát làm phụ đề cho 6 kênh TH nước ngoài, kiểm soát nội dung 26 kênh TH nước ngoài. Ban đã lên sóng thí điểm một số kênh truyền hình mới trong năm qua như: Bóng đá TV, Invest TV (kênh truyền hình đầu tư), Real TV (kênh truyền hình thực tế). Bước đầu, các kênh mới đã nhận được sự ủng hộ và tiếp nhận của khán giả xem truyền hình. Bên cạnh đó, đời sống và thu nhập của người lao động trong Ban cũng đã tăng hơn năm 2008, đạt mức hơn 10 triệu đồng/người/tháng. Ban đã tiết kiệm chi so với ngân sách được giao kế hoạch là gần 1 tỷ đồng.

Cũng trong năm 2009, Ban Biên tập TH cáp đã có thêm rất nhiều cơ chế mới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các công việc: Cơ chế hợp tác sản xuất, ký hợp đồng kinh tế để gia công, sản xuất chương trình, cơ chế chi trả lương kỹ thuật theo khoán tổng quỹ lương dựa trên sản phẩm, công nhận hao phí lao động kiểm duyệt và giám sát nội dung các kênh nước ngoài, các kênh xã hội hóa v.v.. Ngoài ra, Ban cũng đã tiến hành đàm phán, hợp tác với VSTV và kiểm soát nội dung gói kênh K+. Ông Nguyễn Quốc Việt – Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật TH Cáp, phát biểu: Trong năm qua, Ban Biên tập TH cáp không chỉ hoàn thành một khối lượng công việc lớn mà còn hợp tác rất tốt với Trung tâm Kỹ thuật TH cáp trong việc phát triển hệ thống truyền hình trả tiền của Đài. Có thể nói, sự đảm bảo chất lượng về mặt nội dung các kênh sóng của Ban Biên tập TH cáp là yếu tố quan trọng giúp thuê bao của TH cáp Việt Nam tăng lên nhanh chóng và nhận được sự đánh giá cao của khán giả. Ông Hồ Kiên – Trưởng ban Hợp tác quốc tế thì cho rằng: Việc Ban Biên tập TH cáp thực hiện phối hợp làm phụ đề cho kênh Ariang của Hàn Quốc trong năm 2009 là rất hiệu quả. Cách làm này vừa đáp ứng tốt nhu cầu của khán giả, tăng uy tín kênh lại vừa đem lại nguồn thu đáng kể cho đơn vị. Đây là hướng đi mà Ban Biên tập TH cáp nên tiếp tục đẩy mạnh trong năm tới. Truyền hình trả tiền bước vào một thời kỳ mới: cam go và khốc liệt PTGĐ Trần Đăng Tuấn nhận định: Xu hướng của truyền hình trong thời gian tới chính là truyền hình trả tiền. Các kênh quảng bá hiện tại là số một nhưng dần dần sẽ chỉ còn là một phần trong hệ thống các kênh sóng khổng lồ của truyền hình trả tiền.

 

Cùng với thời gian, đời sống thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu thông tin, giải trí ngày một đa dạng thì cũng là lúc khán giả cần đến truyền hình trả tiền chứ không phải là truyền hình quảng bá. Xu thế ấy là tất yếu bởi trên thế giới, lĩnh vực truyền hình trả tiền đã và đang phát triển rất mạnh, trong khi truyền hình công – truyền hình quảng bá đã không còn vị thế tiên phong. PTGĐ Trần Đăng Tuấn cũng cho rằng, đang có những dấu hiệu cho thấy truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng đang bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ cạnh tranh quyết liệt giữa các đài truyền hình. Theo PTGĐ, đây không chỉ là cuộc cạnh tranh của các đài cũ mà sẽ có rất nhiều đối thủ mới nhảy vào cuộc. Bên cạnh các đài đã có tên tuổi như: VTV, VTC, hệ thống các đài PT-TH khu vực và địa phương thì VOV cũng đã ra kênh truyền hình của mình, sắp tới là TTXVN. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là các đài truyền hình của các đơn vị báo chí, ngoài ra, còn có rất nhiều đơn vị không phải là báo chí cũng đang sắp vào cuộc như: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các tập đoàn viễn thông v.v.. Theo quy hoạch hệ thống phát thanh – truyền hình của Chính phủ thì trong thời gian tới sẽ có từ 3-5 hệ thống truyền hình cả nước. Khi đó, VTV sẽ chỉ là một trong những hệ thống đó mà thôi. Thực tế này, một mặt tạo nên nhiều hiệu ứng tích cực đối với xã hội và người dân nói chung vì khán giả sẽ có nhiều lựa chọn hơn nhưng mặt khác, đối với những người làm truyền hình, nhất là VTV, đây sẽ là một cuộc cạnh tranh cam go, khốc liệt. PTGĐ Đinh Quang Hưng cũng cho rằng, đây là thời kỳ mà VTV sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Từ vấn đề sản xuất chương trình, nếu VTV hay VCTV không có cơ chế tốt để giữ chân những người giỏi thì với việc bùng nổ các cơ quan làm truyền hình như hiện nay, sớm muộn nhân tài cũng sẽ bị hấp dẫn bởi những nơi có cơ chế đãi ngộ cao. Đây là một thực tế mà VTV sẽ cần phải đối mặt và có những biện pháp hữu hiệu. Cuộc cạnh tranh về hệ thống truyền dẫn cũng sẽ khó khăn không kém.

Ngoài ra, các yếu tố khác như: chất lượng nội dung, chất lượng dịch vụ; yếu tố tài chính và khả năng quản trị cao cũng là một trong những nhân tố có thể ảnh hưởng và quyết định trong cuộc cạnh tranh khốc liệt hiện nay. PTGĐ đánh giá cao yếu tố trình độ quản trị công việc: Nếu có một đơn vị có khả năng tổ chức, điều hành công việc tốt, xây dựng đội ngũ nhân sự giỏi, năng lực và áp dụng công nghệ làm việc hiện đại thì đơn vị ấy hoàn toàn có khả năng vươn lên, giành được lợi thế trong cuộc đua tranh. Nêu lên thực tế này để thấy rằng, truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng đang ở trong một thời kỳ cạnh tranh rất mạnh. Nó khác xa so với cách đây một vài năm khi số lượng các đài truyền hình không nhiều và nhu cầu thông tin, giải trí của người dân cũng chưa cao. Trong bối cảnh này, cơ hội dành cho VTV và VCTV vẫn là rất lớn bởi chúng ta có những lợi thế không nhỏ về truyền thống, vị thế và con người. Đây sẽ là những yếu tố quan trọng để Đài THVN phát triển nhưng với điều kiện, chúng ta phải thực sự năng động, nhạy bén, nắm bắt đúng thời cơ và bỏ lại đằng sau tư duy kiểu cũ. Làm gì để VCTV vững bước phát triển? PTGĐ Đinh Quang Hưng đánh giá: Khi Đài THVN xây dựng hệ thống truyền hình trả tiền, cơ hội dành cho chúng ta là cực kỳ rộng mở bởi chưa có mấy ai khai phá mảnh đất này. Lúc đó, chúng ta kỳ vọng đến năm 2010, VCTV sẽ có khoảng 5 triệu thuê bao. Nhưng kết quả, đến thời điểm này chúng ta mới có khoảng 1 triệu thuê bao. Điều đó, rõ ràng chưa đáp ứng được mong muốn của chúng ta.

Vậy làm thế nào để VCTV có thể tiếp tục gia tăng, mở rộng thị trường và phát triển? PTGĐ Trần Đăng Tuấn cho rằng: Đây là lúc Ban Biên tập TH cáp nên giữ số lượng kênh, tập trung vào việc nâng cao chất lượng các chương trình, xây dựng chiến lược cho các kênh và đảm bảo việc quản trị cho tốt. Bên cạnh đó, phải xây dựng các cơ chế, quy chuẩn trong việc phối hợp với các đối tác, trước hết là những đối tác thân cận, tiếp đó là với các đơn vị xã hội hóa bên ngoài. Ngoài ra, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động cũng là việc hết sức cần thiết. Yếu tố con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất nên bản thân mỗi phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên… cần tự nghiên cứu, trau dồi kiến thức và cập nhật các phương pháp làm việc hiện đại cho mình. PTGĐ Đinh Quang Hưng cũng đồng tình và bổ sung thêm rằng: Thời gian là yếu tố rất quan trọng. Chúng ta đã bỏ lỡ cả một khoảng thời gian dài mà lẽ ra đã có thể phát triển VCTV lên một mức cao hơn. Vì thế, giờ không thể để phí thời gian hơn được nữa. Chỉ có nhanh nhạy, nắm bắt thời gian, nắm bắt cơ hội tốt, VCTV mới có thể vững bước phát triển.

 b.     Truyền hình số:

Truyền hình số mặt đất như của VTC, số vệ tinh như DTH của VTV, truyền hình cáp như của HTV v.v…. đã triển khai ở Việt Nam thời gian gần đây. Nhưng có điều song song với quá trình số hóa đa dạng đến mức phức tạp về các chuẩn công nghệ, truyền hình analog vẫn tiếp tục được các đài đẩy mạnh đầu tư thiết bị từ khâu sản xuất đến nâng vùng phủ sóng. Quy hoạch truyền hình ở Việt Nam cũng giống như bài toán giao thông, lộ trình chưa rõ ràng và thậm chí, đôi nơi, đôi lúc, dường như đó là sự phát triển tự phát…

Truyền hình số là sản phẩm HỘI TỤ CÔNG NGHỆ. Với những ưu thế hội tụ như:

Từ truyền hình đen trắng đến truyền hình truyền hình màu (PAL, SECAM, NTSC) ở Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm (chưa tính miền Nam trước 1975). 1995, truyền hình Việt Nam bắt đầu giai đoạn lên kế hoạch chuyển đổi sang công nghệ truyền hình số. Và giai đoạn 1997 – 2000 được xem là thời điểm bản lề của quá trình chuyển đổi ấy

Trên thế giới, truyền hình số cũng ì ạch đi vào đời sống bằng một quá trình chuyển đổi gân 30 năm. Từ những năm 70 của thế kỷ trước, các tiêu chuẩn video số (digital Video) được nghiên cứu, rồi tiếp đó là việc nghiên cứu các tiêu chuẩn nén video (video compression), nghiên cứu các tiêu chuẩn phát sóng truyền hình số qua vệ tinh, trên mặt đất.

1994: Truyền hình số còn là một ước mơ.

1995: Truyền hình số vẫn còn là một sự nghi ngờ.

1996: Truyền hình số đã là xu thế không thể đảo ngược.

1997: Thời đại số, kỷ nguyên số (digital era)

Giờ đây ai cũng biết rằng với truyền hình số, tín hiệu hầu như ít nhạy cảm đối với các dạng méo, tạp nhiễu xảy ra trên đường truyền, duy trì tuyệt đốt chất lượng sau nhiều lần ghi dựng, rất linh hoạt, đa dạng trong quá trình xử lý tín hiệu, hiệu quả sử dụng dải thông cao và dễ dàng thích nghi với các bước phát triển tiếp theo của truyền hình.

Truyền hình số là truyền hình của thế kỷ 21, truyền hình của tương lai

Khó có thể chấp nhận rằng ở một thành phố văn minh trong thế kỷ 21 này mà vẫn còn quá nhiều ăng ten thu hình truyền hình analog chĩa lên trời như một hệ thống phòng không.

Truyền hình số cho phép nhà sản xuất, nhà truyền thông khai thác đa dạng và phong phú hơn để phân cấp chất lượng tín hiệu theo từng ứng dụng khác nhau: Thời sự – Khoa học giáo dục – Văn nghệ – Phim truyện… hoặc phân cấp chất lượng theo từng công đoạn sản xuất chương trình: Tiền kỳ – Hậu kỳ – Truyền dẫn – Phát sóng, lưu trữ.

Nếu trong công nghệ tương tự (analog): chất lượng tín hiệu giảm dần từ camera đến máy thu hình của khán giả thì trong công nghệ số, quá trình truyền tải chất lượng tín hiệu được bảo toàn từ đầu ra studio tới máy thu hình.

Anytime, anywhere, anyone…

Truyền hình số có khả năng phục vụ bất kỳ ở đâu (anywhere), thiết bị thu hình có tính “di động”, có thể “xách tay” (Mobility & Portability)

Song hành với Internet, truyền hình trực tuyến được xem là phương tiện quảng bá thứ 3 sau phát thanh, truyền hình (Internet: The Third Medium of Broadcasting)

Truyền hình số tạo ra khả năng phục vụ bất kỳ khi nào (Anytime): Xem chương trình truyền hình mong muốn không phụ thuộc vào lịch phát sóng nhờ bộ nhớ trong máy thu. Hiện đã có các hình thức: Video theo yêu cầu (VOD – Video On Demand), Video gần theo yêu cầu (NVOD – Near Video On Demand)

Truyền hình số tạo ra khả năng phục vụ bất kỳ đối tượng nào (Anyone). Nhờ khả năng quá lớn của các kênh tín hiệu, truyền hình số có thể phát nhiều chương trình, mỗi chương trình phục vụ một đối tượng khác nhau. Một chương trình truyền hình có thể có nhiều kênh âm thanh: Kênh dành cho người khiếm thị, Kênh dành cho người khiếm thính, Kênh Stereo cho các chương trình ca nhạc, Kênh với các ngôn ngữ khác nhau tuỳ theo yêu cầu sử dụng

Truyền hình số do vậy còn được gọi là “Triple A” (Anywhere, Anytime, Anyone).

Giờ đây, những nguyên lý kinh điển của công nghệ truyền hình tương tự không còn được sử dụng: đồng bộ, điều chế, xen kẽ phổ… Phương pháp thu nhận thông tin về hình ảnh, xử lý, lưu trữ, truyền dẫn, phát xạ, tái tạo lại hình ảnh hoàn toàn khác so với công nghệ tương tự. Phương thức sản xuất cũng khác: sản xuất chương trình trên mạng, lưu trữ trên máy chủ, dựng hình phi tuyến tính…

đặc điểm nổi bật so với truyền hình truyền thống như

TIẾT KIỆM:

– Tính tích hợp, bản thân nó, đã đồng nghĩa với tiết kiệm.

– Thiết bị số, nói chung, đòi hỏi chi phí khai thác, bảo dưỡng thấp.

– Với công nghệ SFN (mạng đơn tần) có thể tiết kiệm đáng kể tài nguyên tần số (frequency resource).

– Để đạt được cùng một diện tích phủ sóng, công suất máy phát số mặt đất chỉ cần bằng 1/4 công suất máy phát hình tương tự (thấp hơn 6 DB). Trong khi đó công suất máy phát luôn tỷ lệ thuận với giá thành.

– Phân cấp về chất lượng: dịch vụ nào sử dụng cấp chất lượng của dịch vụ đó sao cho kinh tế nhất, hiệu quả nhất

– Một bộ phát đáp (Transponder) trên vệ tinh có thể truyền tải số lượng chương trình truyền hình số nhiều hơn truyền hình tương tự 5-6 lần.

– Một kênh truyền hình mặt đất có thể truyền tải 4-5 chương trình truyền hình số chất lượng cao, trong khi chỉ có thể truyền được 01 chương trình truyền hình tương tự.

Xét trên mọi phương diện, truyền hình số đồng nghĩa với: tiên tiến, tích hợp, tương tác, tiết kiệm.

Nhưng chuyển đổi công nghệ truyền hình từ tương tự sang số đồng nghĩa với một cuộc cách mạng.

Vì nó mới nên không dễ chấp nhận.

Bao nhiêu người lâu nay xài truyền hình không tốn tiền nay lại trả trước.

Bao nhiêu tỉnh thành (kể cả tỉnh mới tách ra như Đắc Nông) đều đầu tư hoành tráng cho thiết bị sản xuất và phát sóng truyền hình analog, bỏ thế nào?

Hiện nay truyền hình số có quá nhiều dạng thức (Format), tiêu chuẩn (Standards) cho từng ứng dụng, từng công đoạn sản xuất chương trình

Do có nhiều tiêu chuẩn, dạng thức, các tổ chức Phát thanh- Truyền hình có cơ hội lựa chọn công nghệ, thiết bị phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi nước, và với từng ứng dụng sao cho hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất. Song mặt khác cũng gây không ít khó khăn cho việc định hướng đầu tư.

Có thể nói hiện nay, phát thanh truyền hình đang đứng trước cơ hội và thách thức.

Công nghệ hiện đại vừa có tính hội tụ vừa rất đa dạng. Đa dạng về phương thức truyền tải; đa dạng về phương tiện lưu trữ; đa dạng về thiết bị Sản xuất chương trình; đa dạng về phương thức sản xuất chương trình (tuyến tính (Linear Editing) và phi tuyến tính (Non-Linear Editing);.đa dạng về phương thức truyền bá…, phương thức phân phối (đa chiều, đa phương, song phương), đa dạng về phương thức hưởng thụ (thụ động; lựa chọn, chủ động, tương tác, tìm kiếm, tham dự, sáng tạo… (Create);

Truyền hình số mang đến nhiều cơ hội:

+ Đưa truyền hình đến với mọi người, mọi tầng lớp xã hội, mọi nơi, mọi lúc, mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, bằng mọi phương thức

+ Chưa bao giờ PT-TH phát triển phong phú, đa dạng như hiện nay

nhưng có những thách thức:

– Cạnh tranh.

– Đòi hỏi của người xem ngày càng cao: Từ thụ động, chấp nhận, dễ thỏa mãn đến tích cực, tìm kiếm, lựa chọn, sàng lọc;

Truyền hình số mang đến tiện nghi, tiện ích, thuận tiện (Thuận tiện đôi khi còn cần hơn cả chất lượng); mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện; dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, rẻ hơn.

Truyền hình số phù hợp với sức ép của xã hội công nghiệp: hối hả hơn, năng động hơn, ít thời gian nhàn rỗi hơn. Và yêu cầu nắm bắt thông tin: thường xuyên hơn, liên tục hơn, cập nhật hơn.

Đối mặt với sự đổi thay hay bằng lòng với hiện tại?

c.      Gameshow truyền hình cơ hội và thách thức trong thời đại đa phương tiện thông tin, giải trí:

Không còn cảnh khán giả xếp hàng rồng rắn ghi danh đi chơi game show truyền hình, khán giả theo dõi bắt đầu mỏi mệt.

Chỉ tính riêng Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình TP. HCM đã có hơn 18 chương trình game show, trong đó hơn 13 chương trình là của HTV. Trung bình mỗi ngày khán giả TP. HCM có điều kiện tiếp xúc khoảng 3 chương trình game show trên HTV và VTV, chưa kể một vài game show khác trên đài truyền hình các tỉnh lân cận. Dù kiên nhẫn đến mấy thì người xem cũng không tránh khỏi tâm lý mệt mỏi và nhàm chán.

Chỉ giải trí không thôi cũng chán

Sức hấp dẫn của các game show truyền hình là tạo ra sự tương tác giữa chương trình với khán giả qua màn ảnh nhỏ. Sự tương tác ấy có hiệu quả cao khi game show ấy thỏa mãn cả 2 nhu cầu: giải trí và lợi ích thiết thực mang lại cho khán giả tham gia. Thế nhưng phần lớn các game show truyền hình hiện nay chỉ chú trọng đến phần giải trí, phần lợi ích thiết thực mang lại cho khán giả tham gia có chăng là những giải thưởng dự đoán, thông qua dịch vụ điện thoại mà xác suất trúng giải gần như bằng không.

Một số game show có thể mang lại cho khán giả xem đài những kiến thức bổ ích như Trúc xanh, Vui để học... lại thiếu tính hấp dẫn. Ngay game show Chiếc nón kỳ diệu của VTV đến nay đã không còn giữ được sức hấp dẫn ban đầu của nó, bởi chương trình kéo dài quá lâu, không có gì mới. Đó là chưa kể đến những sự cố mà một số chương trình game show dạng này làm cho người xem thất vọng khi những người biên tập chương trình đưa ra những đáp án không đúng, nhầm lẫn về kiến thức chuyên môn…

Có những game show với mục đích giải trí nhưng khiến khán giả bực mình như Chung sức. Dù người tổ chức lấy kết quả khảo sát của 100 người để làm đáp án, nhưng con số 100 người ấy không đại diện cho số đông các thành phần trong xã hội hiện nay, nên những thông tin đưa ra phần lớn là không phù hợp, thậm chí phản cảm, phản khoa học. Do vậy chương trình ít mang lại lợi ích thiết thực cho khán giả. Chương trình game show Hát với ngôi sao nhưng chẳng thấy ngôi sao đâu cả.

Dấu hiệu thiếu trung thực?

Không phải ngẫu nhiên khi hàng loạt game show truyền hình đua nhau huy động một lực lượng người của công chúng tham gia chơi, trong đó chủ yếu là nghệ sĩ. Đây là cách nâng hiệu quả tương tác của chương trình với khán giả khi hàng loạt game show gần đây bị hạ nhiệt. Thế nhưng sự tham gia của nghệ sĩ quá nhiều trong các lần chơi đã tạo ra những hiệu ứng bất lợi cho nhà tổ chức. Khán giả bắt đầu nhận thấy có sự đối xử chưa công bằng của nhà tổ chức giữa người chơi nghệ sĩ và người chơi bình thường. Gần như lần chơi nào có nghệ sĩ tham gia chơi, với tư cách khách mời, thì nghệ sĩ đều thắng. Rõ nhất là chương trình game show Siêu thị may mắn (HTV), khán giả không hiểu vì sao nghệ sĩ nào tham gia cũng đều được lọt vào vòng 3, người chơi khác chỉ còn cơ hội tham gia được vòng 1 hoặc vòng 2. Giải thưởng lớn của chương trình cuối cùng thuộc về nghệ sĩ (!?).

“Bội thực” gameshow

Cách đây 12 năm, gameshwow đầu tiên SV’96 rất ăn khách. Thời hoàng kim của gameshow được đánh dấu bằng những chương trình tạo được tiếng vang như: Hành trình văn hoá, Chiếc nón kỳ diệu, Đường lên đỉnh Olympia, Trò chơi âm nhạc… Hai năm trở lại đây, các đài TH tăng kênh, tăng giờ phát sóng thì gameshow càng được sản xuất nhiều. Cứ lớp gameshow này “đuối”, các đài truyền hình lại xoay qua làm gameshow mới để lấp sóng.

Có thể nói, các gameshow rất “hot” người chơi, bởi đi thi là có tiền thưởng. Có khá nhiều gameshow đưa ra mức thưởng khá cao. Nhiều gameshow, nhưng còn ít chương trình có dấu ấn riêng, đáp ứng được hai tiêu chí: Trí tuệ và giải trí, được người xem đón chờ như: Đấu trường 100, Rung chuông vàng, Chúng tôi là chiến sĩ, Chiếc nón kỳ diệu, Đường lên đỉnh Olympia…

Còn lại hầu hết các gameshow đều nhàm chán khi mang tính biểu diễn, nhất là các gameshow dùng nghệ sĩ, người nổi tiếng làm người chơi để “dụ” người xem. Do tâm lý của người Việt thường rụt rè, ngại xuất hiện trước đám đông nên việc chọn lựa người chơi phù hợp với yêu cầu của mỗi gameshow không dễ.

Thiếu cá tính, hay kiến thức kém… cũng khá phổ biến ở nhiều gameshow. Chưa kể, những gameshow như Hãy chọn giá đúng, Siêu thị may mắn… quá lộ tiêu chí “quảng cáo” hơn là trò chơi giải trí truyền hình. Còn không ít gameshow na ná giống nhau, gây nên sự nhàm chán cho khán giả.

MC của nhiều gameshow quá yếu, thiếu sự chuyên nghiệp trong dẫn dắt người chơi – chương trình – khán giả. Thông thường, MC trong trò chơi truyền hình quyết định tới 50% thành công của gameshow.

Phần chìm của tảng băng

Hiện ở các nhà đài thì gameshow là trung tâm của các hợp đồng quảng cáo. Theo TVAd thì gameshow chiếm tới 43% doanh thu của VTV3, phim truyền hình không nhiều. Phía các nhà tài trợ – quảng cáo thì gameshow vẫn là sự lựa chọn đầu tiên của họ so với các chương trình giải trí trên truyền hình khác. Bởi vậy, gameshow nở rộ là điều tất nhiên… Song những gì mà dư luận nhìn thấy về gameshow chỉ là bề nổi.

Về nghi ngờ “bội thực” gameshow, bà Vũ Thị Bích Liên – GĐ Cty Sóng Vàng – đang sản xuất gameshow Đấu trường 100 (HCV tại LHTH toàn quốc 2007) thẳng thắn nhìn nhận: “Khán giả có cảm giác “bội thực” về gameshow, chứ thực ra thời lượng phát sóng của nó không phải là quá nhiều so với phim truyền hình, hay ca nhạc.
Đài truyền hình chỉ có một số kênh nhất định, lượng sóng nhất định dành cho gameshow thôi. Sở dĩ có “dị ứng” vì có khá nhiều gameshow vô bổ, không đáp ứng được hai tiêu chí: Giải trí và học hỏi của trò chơi truyền hình nói chung”… Khách quan thì 2 năm nay, truyền hình ta mới phát triển mạnh, khán giả có cảm giác “bội thực” về nhiều thứ như: Ca nhạc truyền hình trực tiếp, phim truyện nước ngoài… chứ không riêng gì gameshow.

Một nhà sản xuất khác thì lý giải vì sao gameshow hầu hết được phát sóng trong khung giờ từ 20-21 giờ rằng, đối tượng của khán giả xem gameshow rộng hơn, cả nhà từ cụ già đến trẻ con đều có thể ngồi xem và cùng “dự thi”. Trong khi đó, phim thì khó có thể phát sóng giờ này, vì có những đoạn tế nhị, hay cảnh “nóng” buộc phải xem vào giờ khác nhau để phù hợp với từng đối tượng khán giả riêng.

Cũng vì tính chất đại chúng của gameshow nên chúng bị mang tiếng “oan” là chiếm sóng, chiếm giờ. Theo thời gian, những gameshow vô bổ không có lợi cho khán giả tất sẽ bị loại. Có một điều cần phải khẳng định là gameshow không thể thiếu trong sự phát triển của ngành truyền hình.

Về phía các nhà sản xuất, việc thực hiện được một gameshow là rất tốn kém và vất vả. Đầu tiên là phải chọn lựa từ hàng chục format của nước ngoài để có được một format đáp ứng các tiêu chuẩn: Luật chơi hay, thích hợp với khán giả VN, từng phát sóng được ở nhiều nước và tạo được hiệu ứng người xem cao.
Cầm format trong tay rồi đi xin sóng của đài TH, những công ty từng làm gameshow có thuận lợi hơn khi được giờ đẹp, còn “lính mới” nhiều khi phải chờ dài cổ. Tiếp theo là chào tài trợ, tổ chức êkíp làm gameshow, nếu có câu hỏi thì phải mời ban cố vấn chuyên môn biên sọan cho phù hợp.
Còn trăm thứ chuẩn bị khác như: Tìm nhà cung cấp âm thanh, ánh sáng, trường quay, người chơi… trong đó có những gameshow như Đấu trường 100 tìm được hơn 100 người chơi / game không phải dễ. Thời gian chuẩn bị để một gameshow bắt đầu đi vào sản xuất thường mất từ 3-6 tháng, có khi cả năm trời.

Chưa kể, một số gameshow phải nhập máy móc, thiết bị trường quay, hay phần mềm tương ứng ở nước ngoài như Đấu trường 100 chẳng hạn. Tính tổng chi phí sản xuất cho một chương trình phát sóng từ 120-200 triệu đồng, ngang với chi phí loại cao của một tập phim truyện truyền hình hiện nay.

Hiện hầu hết gameshow phát sóng ở ta đều mua format ở nước ngoài, vừa tốn kém, đôi khi gây “bực bội” cho khán giả bởi phải tuân theo format gốc. Thời gian qua, cũng đã có một số nhà sản xuất làm gameshow thuần Việt như Trúc xanh (HTV), Việt Nam quê hương tôi (BTV), nhưng không thành công, tuổi thọ rất ngắn. Có thể nói, đội ngũ viết kịch bản phim truyện hiện ở ta còn thiếu và yếu tay nghề thì có được một đội ngũ viết gameshow chuyên nghiệp lại càng xa vời.

Đặc thù của trò chơi truyền hình là mới lạ, thú vị và bổ ích hoặc vừa giải trí, vừa học hỏi… Trong khi nhu cầu thưởng thức, sự kén chọn của người xem truyền hình ngày một nâng cao, vì thế muốn tồn tại buộc các nhà sản xuất phải có sự sáng tạo, thay đổi không ngừng từ nội dung và hình thức gameshow.

6.     Truyền hình Việt Nam phải lên kế hoạch cạnh tranh với các loại hình báo chí truyền thông khác:

Với ưu thế về âm thanh, hình ảnh sống động sắc nét, truyền hình có thể vượt qua được báo in , phát thanh.

Nhưng hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, loài người phát minh ra nhiều cách truyền thông tin khác nhau, đặc biệt bước đột phá mới trong ngành truyền thông là mạng internet. Sự xuất hiện của mạng internet, làm cho ngành báo mạng phát triển mạnh mẽ, trở thành đối thủ cạnh tranh số 1 với truyền hình. Chỉ với một chiếc máy tính, khi click chuột vào thì cả thế giới mở ra trước mắt, lôi cuốn, hấp dẫn, chúng ta chỉ việc ngồi ở nhà nhưng mọi chuyện xảy ra ở đâu, giờ nào trên thế giới chúng ta đều có thể biết.

Báo mạng còn có lợi thế là các thông tin liên kết, có đường link dẫn, người đọc có thể lưu lại vầ đọc bất cứ khi nào có thời gian, không như truyền hinhf, xem phải đúng giờ, nếu muốn xem lại thì phải đợi các kênh khác phát lại, như vậy thì nguồn thông tin đã trôi qua…

Điều này đặt truyền hình vào tình thế rất khó khăn,đòi hỏi truyền hình phải thay đổi một số chương trình cho bắt mắt hơn, hấp dẫn hơn, các kênh truyền hình kỹ thuật số, vtc, truyền hình cáp…tất cả đều phải thực hiện bước cải tiến, làm thế nào để nắm bắt được xu thế của thời đại, đánh ào niềm đam mê yêu thích của loài người, cần áp dụng những tiến bộ khoa học hiện đại vào ngành truyền hình.

Làm thế nào để cập nhật được những thông tin nóng nhất, được nhiều người quan tâm chú ý nhất, nguồn thông tin đòi hỏi phải có độ chính xác cao, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập như ngày nay, thì truyền hình phải vươn ra nước ngoài, phát song với mức độ nhiều, với các thứ tiếng khác nhau, để không chỉ người Việt Nam biết đến, mà còn phải đưa văn hóa việt đến với bạn bè năm châu.

III.           Kết luận:

Qua phân tích, tìm hiểu những cơ hội đặt ra và thách thức cho loại phương tiện truyền thông- truyền hình, chúng ta thấy.

Xã hội ngày càng phát triển tiên tiến hiện đại, sự gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội lớn cho ngành truyền thông, đặc biệt là truyền hình, mở ra một chân trời, một cánh cửa mới hiện đại cho con người, đặt truyền hình vào thời cơ và thách thức lớn.

So với báo mạng điện tử truyền hình ra đời sớm hơn, nên có nhiều lợi thế cạnh tranh trong nước, với sự nỗ lực của mình các nhà truyền hình đã, và đang dần cải thiện, làm cho truyền hình có sức hút hơn các loại phương tiện truyên thông khác, và sự thay đổi đó mang đến hiện tượng xã hội hóa truyền hình.

Xã hội hóa (XHH) truyền hình (TH) manh nha tại Việt Nam từ gần chục năm trước. Hai năm trở lại đây đã cho những kết quả đáng mừng và hiện đang trở thành vấn đề thời sự nhất trong làng TH cả nước. Mặc dù vậy, cho đến nay XHH TH vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi.

Khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, nước ta thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế. Cũng từ đó, nhiều lĩnh vực không còn bó hẹp trong sự hoạch định của Nhà nước mà được phát triển theo quy luật cung – cầu. Càng ngày chúng ta càng thừa nhận tính đúng đắn của sự chuyển đổi ấy. Cùng với quá trình này, khái niệm XHH không còn xa lạ. Nó đã được hiểu là “làm cho mang tính xã hội” hay “huy động toàn xã hội tham gia”.

Cũng mang nghĩa này, XHH TH chính là “sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành TH“. Điều đó có nghĩa là trong các khâu sản xuất, hình thành tác phẩm của một chương trình TH, có sự tham gia của một hoặc nhiều đơn vị, cơ quan không thuộc nhà Đài

“Bản chất của xã hội hoá không phải là vì tiền, mà là việc lôi kéo nhiều đơn vị, tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm tải cho nhà Đài cũng như tạo ra hiệu quả tốt nhất cho các chương trình truyền hình. Và nó sẽ thu hút đựơc sự quan tâm và ủng hộ của công chúng”. – Trần Đăng Tuấn (Phó TGĐ thường trực VTV)

Được quan tâm và tạo điều kiện đến thế, nhưng XHH TH đến nay vẫn chưa đạt tiến độ như lẽ ra phải có được. Không phải bỗng dưng mà XHH TH trở thành chủ đề được bàn đến tại hai liên hoan TH Toàn quốc liên tiếp (2006 và 2007). Những người làm TH hẳn cũng đã ý thức được sự hấp dẫn của vấn đề khi quyết định tổ chức các hội thảo mở rộng trong khuôn khổ của ngày hội TH lớn nhất cả nước. Điều này chứng tỏ vấn đề XHH TH đang rất được quan tâm. Và thực tế thậm chí còn “nóng” hơn họ tưởng.

Rất nhiều giám đốc các công ty truyền thông và cả những người đang có ý định tham gia sản xuất chương trình TH đã bay từ Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh để tham dự hội thảo. Không khí sôi động, sự quan tâm và số lượng các câu hỏi xung quanh việc XHH TH đã khiến nhà báo Tạ Bích Loan (lúc đó là Phó trưởng ban Thể thao Giải trí – Thông tin, Kinh tế – Đài THVN) phải ngạc nhiên: “Không ngờ không khí sản xuất từ ngoài Đài lại sôi động đến thế!”.

Đón đầu xu hướng XHH, các công ty truyền thông ra đời ngày càng nhiều. Họ mạnh dạn trong đầu tư, năng động trong cơ cấu và hoạt động, nên quan tâm đến XHH TH là đương nhiên. Không chờ đợi một cách thụ động, nhiều đơn vị đến gõ cửa nhà đài chào bán chương trình, đăng ký sản xuất, nhận mời tài trợ… Đáng tiếc là chính các nhà Đài – những người giữ vai trò quản lý lại đang rơi vào thế bị động.

Không có nghĩa là không thể làm gì trước sự chủ động của các công ty sản xuất tư nhân đang ngày càng chuyên nghiệp. Mà sự bị động của các nhà đài thể hiện ở chỗ, trong vai trò người tổ chức thực hiện nhưng họ không đưa ra được những phương thức hợp tác phù hợp để khuyến khích cả hai. Mỗi đài một kiểu, vẫn tiếp nhận sự tham gia của các đơn vị bên ngoài, nhưng cách thức hợp tác của họ đang khiến các đơn vị ngoài đài mệt mỏi.

Chủ trương của Nhà nước là tổ chức các đơn vị ngoài đài tham gia vào quá trình sản xuất để chuyên môn hóa nền TH và giảm tải cho các đài trước sức ép tăng thời lượng phát sóng, vì mục tiêu cuối cùng là phục vụ khán giả tốt hơn. Nhưng trên thực tế, các nhà Đài chưa khai thác được sức mạnh của đội quân ngày càng đông đảo và luôn trong tư thế sẵn sàng này. Ngược lại, sự chần chừ, bị động của họ đang làm nảy sinh hàng loạt vấn đề trong công tác quản lý và quy hoạch TH, làm giảm hiệu qủa của một chủ trương hoàn toàn tích cực.

Truyền hình là một kênh thông tin quan trọng, hằng ngày, hằng giờ cung cấp thông tin cho công chúng. Là một người đóng vai trò đem đến cái mới cho công chúng, truyền hình luôn phải tự hoàn thiện mình để phát triển. Từ buổi đầu ra đời cho đến nay, truyền hình phải  trải qua nhiều xu hướng khác nhau để phát triển. Một xu hướng cũ qua đi thì một xu hướng khác, mới hơn, tiến bộ hơn lại hình thành. Trong giai đoạn toàn cầu hóa thông tin ngày nay, vũ khí quan trọng nhất chính là thông tin, kiểm soát và tận dụng hiệu quả của thông tin thì quốc gia đó sẽ tạo dựng được chỗ đứng cho mình trên trường quốc tế.

Qúa trình thương mại hóa truyền hình và hình thành các tập đoàn báo chí truyền hình vẫn tiếp tục phát triển. Truyền hình ngày nay sống nhờ nguồn thu từ quảng cáo. Bên cạnh đó, các kênh thông tin truyền hình đã tự đổi mới và biến mình thành như một tập đoàn kinh tế, không chỉ hoạt động trong lĩnh vực truyền thông mà còn lấn sân sang các hình thức kinh doanh khác. Xu hướng thương mại hóa báo chí truyền hình còn đặt ra thách thức đối với người làm truyền hình  đó là: làm thế nào để không bị đồng tiền chi phối tin tức… nhưng xem ra vấn đề này rất nan giải.

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các kênh truyền hình đã biến cơ quan  của truyền thông của mình thành một kênh thông tin đa phương tiện. Thông tin dưới nhiều hình thức sẽ giúp cho khán giả có nhiều lựa chọn cho mình.

Truyền hình Việt Nam là loại phương tiện truyền thông đang được khan giả quan tâm ưa chuộng, nên trong tương lai, truyền hình sẽ khắc phục được những điểm yếu của mình để phát triển vững mạnh, cạnh tranh với các loại hình truyền thông khác.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

·        Oliver – Boyd – Barrett and Terhi Rantanen (ed.), The Globalization of News, SAGE Publications, 1998

·        Robert W. Mc Chesney, Rich Media Poor Democracy – Communication Politics in Dubious Times, The New Press New York, 2000

·        Russell H.K. Heng (ed.), Media Fortunes Changing Times, Institute of Southeast Asian Studies, 2002

·        Olessia Koltsova, News Media and Power in Russia, Routledge, 2006

·        www.washingtonpost.com

·        www.nytimes.com

www.guardian.co.uk

·        Báo chí hiện đại nước ngoài: Những quy tắc và nghịch lý – X.A.Mikhailốp

·        Nhà báo hiện đại – The Missouri Group – NXB Trẻ 2007

·        Tạp chí truyền hình

·        Bài giảng báo truyền hình – PGS.TS Dương Xuân Sơn

·        Bài giảng thiết kế tạp chí – Th.s Vũ Trà My.

·        Interactive television – Wikipedia.org

·        Free daily Newspaper – Wikipedia.org

·        Introduction of citizen media

·        Media trends – sourcewatch.org

·        The State of the news Media 2008 – Journalism.org

·        http://www.vietnamjournalism.com/

·        http://www.nghebao.com

·        http://vietnamnet.vn/

 

® Ghi rõ nguồn “bangtamblog.net” khi phát hành lại thông tin này



1 Comment

  1. Mình đang tim hiểu về giải pháp tích hợp internet và truyền hình bạn nào có thông tin thì send giúp mình với nhé
    http://suntel.com.vn

Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>