ĐỔI MỚI QUẢN LÝ BÁO CHÍ TRONG THỜI KỲ BÙNG NỔ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

5

Ngày nghỉ rảnh rỗi nên post các bài tập mình đã làm trong thời gian học Cao học lên đây cho các bạn tham khảo khi cần.

Tên đề tài:   ĐỔI MỚI QUẢN LÝ BÁO CHÍ TRONG THỜI KỲ BÙNG NỔ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI 

MỞ ĐẦU

Sự phát triển rộng rãi của công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay đã làm thế giới thay đổi nhanh chóng trên nhiều phương diện, trong đó có lĩnh vực báo chí và truyền thông. Tất cả đều có xu hướng vận dụng các thế mạnh của công nghệ. Bên cạnh tờ báo giấy, một cơ quan báo chí thường kèm theo sản phẩm báo điện tử.

Những người hoạt động trong lĩnh vực báo chí đang tác nghiệp trong thời điểm bùng nổ mạng xã hội. Có 2 luồng ý kiến khi truyền thông xã hội vươn lên tỏ rõ ưu thế hiện nay là: 1. Mạng xã hội sẽ thay thế báo chí nhờ sự nhanh nhạy và đa dạng của thông tin; 2. Báo chí sẽ vẫn tồn tại song song với mạng xã hội nếu vẫn duy trì và phát huy những giá trị cốt lõi của nền báo chí có chất lượng (như chính xác, khách quan, cân bằng, giúp độc giả có kiến thức, đủ thông tin và nhờ đó đưa ra những quyết định đúng đắn, có lợi cho bản thân mình và xã hội), song song với việc linh hoạt sử dụng mạng xã hội quảng bá, chia sẻ, thu hút sự quan tâm và thảo luận, tham gia từ bạn đọc.

Trong bối cảnh các phương tiện để truyền tải thông tin đến công chúng đang nhanh chóng thay đổi, các nhà báo có thể làm gì để có lợi nhiều nhất từ sự xuất hiện của truyền thông xã hội?. Đổi mới công tác quản lý báo chí là điều nên làm và cần thiết trong lúc này, báo chí cần đổi mới để phát triển mạnh mẽ hơn.

NỘI DUNG

Chương 1 – TÌM HIỂU CHUNG VỀ QUẢN LÝ BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

1.1. Tầm quan trọng của báo chí và công tác quản lý báo chí đối với xã hội.

         Báo chí tác động từng ngày, từng giờ đến đời sống xã hội. Vì vậy, mọi chế độ chính trị đều có chủ trương và biện pháp quản lý báo chí theo hướng có lợi nhất cho mình. Ở nước ta, mục tiêu cao nhất của báo chí cách mạng là phục vụ cho sự phát triển của đất nước và lợi ích của nhân dân, bởi vậy công tác quản lý báo chí phải được ưu tiên, đảm bảo phù hợp với sự phát triển của xã hội.

Theo quy định của Luật Báo chí năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung), cơ quan quản lý nhà nước về báo chí gồm: cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương (Bộ Thông tin và truyền thông); các bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương (UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Luật Báo chí quy định, Bộ Thông tin và truyền thông thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí trên nhiều lĩnh vực, điển hình là các lĩnh vực sau: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển sự nghiệp báo chí; Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí; Thanh tra, kiểm tra hoạt động báo chí.

Các bộ, cơ quan ngang bộ – với vai trò là cơ quan chủ quản báo chí – đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền trong việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động; đồng thời tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí đảm bảo các tiêu chuẩn về chính trị, nghiệp vụ. Nhiều cơ quan chủ quản báo chí đã chủ động xây dựng quy chế quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền, tạo điều kiện cho cơ quan báo chí hoạt động đúng quy định, có sự rành mạch, thống nhất trong chỉ đạo, quản lý và trong công tác phối hợp của cơ quan báo chí với các đơn vị liên quan thuộc Bộ Thông tin và truyền thông.

Thực tế, giai đoạn vừa qua hoạt động của báo chí nước ta được ví sự phát triển gần như là “phong trào” – hay nói cách khác là, tình trạng mạnh ai nấy làm. Ngành ngành ra báo, hội hội ra báo… Có nơi người ta lý luận và thậm chí ngụy biện về cái gọi là nhu cầu, đòi hỏi có “cơ quan ngôn luận” để xin ra nhiều tờ báo. Hệ lụy của tình trạng này là những cuộc cạnh tranh không lành mạnh tạo ra không ít ấn phẩm báo chí chưa đạt chuẩn.

Chính vì thế mà báo chí Việt Nam thời gian qua bên cạnh những thành tựu, những ngăn nắp, nghiêm túc, tạo nên sức mạnh định hướng thông tin, hướng công chúng đến cái hay, cái đẹp, thì cũng đồng thời xuất hiện bức tranh lộn xộn, nhiều chắp vá.

Chính tình trạng hoạt động báo chí như vậy đã buộc Đảng, Nhà nước phải thắt chặt quản lý để lập lại trật tự, và phân định minh bạch cũng như tôn trọng nguyên lý, nguyên tắc của báo chí. Nhất là khi mà ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, báo chí Việt Nam đã có nhiều đổi mới.

 

1.2. Truyền thông xã hội là gì?

         Truyền thông xã hội (tiếng Anh: Social Media) là một thuật ngữ để chỉ một cách thức truyền thông kiểu mới, trên nền tảng là các dịch vụ trực tuyến, do đó các tin tức có thể chia sẻ, và lưu truyền nhanh chóng và có tính cách đối thoại vì có thể cho ý kiến hoặc thảo luận với nhau. Những thể hiện của Social Media có thể là dưới hình thức của các mạng giao lưu chia sẻ thông tin cá nhân (MySpace, Facebook, Yahoo 360) hay các mạng chia sẻ những tài nguyên cụ thể (tài liệu – Scribd, ảnh – Flickr, video – YouTube)

Các phương tiện truyền thông mới ra đời này đã sáng tạo ra một thế giới nữa cho loài người: đó là một thế giới ảo mà con người có thể sống và can thiệp như một thế giới thật. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lối tư duy, đến lựa chọn các chủ đề, đến thủ pháp kỹ thuật trong sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật. Đó chính là một khác biệt lớn khi so nghệ thuật hậu hiện đại với tất cả những trường phái nghệ thuật trước đó.

Ở Việt Nam, cũng giống như báo chí quốc tế, báo chí truyền thống đang đối mặt với những thách thức lớn từ truyền thông xã hội. Hiện mạng xã hội được người Việt Nam dùng nhiều nhất là Facebook với khoảng 19,6 triệu người năm 2014. Zing Me, mạng xã hội dành cho giới trẻ đứng ở vị trí thứ 2. Thậm chí, có những người khẳng định chỉ đọc Facebook là đủ, vì “có nhiều tin, đa chiều, hay hơn cả báo chí.”

1.3. Sự cạnh tranh thông tin mạnh mẽ giữa truyền thông xã hội và báo chí.

Trong bối cảnh bùng nổ truyền thông mạng xã hội (MXH) như hiện nay, áp lực cạnh tranh thông tin không chỉ có giữa các cơ quan báo chí với nhau, mà còn giữa báo chí với MXH. Ở Mỹ, Liên minh Châu Âu, một số nước Châu Á, có hơn 50% số dân và gần như toàn bộ giới trẻ thường xuyên dùng MXH.

Mạng xã hội vài năm trước chỉ là nơi kết nối, giao lưu, chia sẻ thông tin về những thứ thường nhật, nay trở thành diễn đàn chia sẻ quan điểm, cách nhìn nhận đa chiều về nhiều vấn đề mang tính chính trị – thời sự. Vậy chuyện gì đang xảy ra với báo chí chính thống?

Với số người dùng internet ở Việt Nam lên đến 35 triệu người, gần như tờ báo nào cũng có định hướng chiến lược xây dựng phiên bản báo điện tử song song với báo giấy. Nhiều tòa soạn đã lập trang thông tin riêng của mình trên MXH. Truyền thông xã hội có tính tương tác cao, cho phép người sử dụng đồng thời là người sản xuất tin, thực hiện chia sẻ, trao đổi thông tin và ý tưởng thông qua các quan hệ ảo và cộng đồng ảo.

Người người tìm tới mạng xã hội. Sau vài năm thờ ơ, giờ đây các công ty kinh doanh đã coi mạng xã hội là một kênh quảng cáo có sức hút cực kỳ to lớn, lấn át báo chí truyền thống. Sự thành công của Facebook, Twitter, LinkedIn, Instagram, Google và SnapChat trong lĩnh vực cung cấp thông tin khiến cả báo chí lẫn doanh nghiệp đều phải để mắt đến. Gần như tất cả những mạng xã hội này đều tìm cách để trở thành một tờ báo và cũng có thể nói họ làm được điều đó rồi thông qua việc thuê các nhà văn, biên tập viên hoặc khuyến khích các tờ báo đăng tải thông tin trên các nền tảng của họ. Hệ thống mạng xã hội và thương mại đang từng bước thống trị các hoạt động trực tuyến, độc giả của họ đương nhiên là những người trẻ tuổi.

Thách thức của mạng xã hội đối với báo chí truyền thống là ở chỗ mạng xã hội thu hút được nhiều thành viên. Facebook có 1,4 tỷ người dùng, vượt mặt Google về lượt truy cập. Trong cuộc bầu cử tháng 5/2015 tại Anh, chiến trường chính của các ứng viên không có gì ngạc nhiên khi nằm trên mạng xã hội. Không còn chuyện đi từng nhà gõ cửa, tổ chức các cuộc họp hay gửi thư vận động nữa, mà cuộc chiến chính được phân định thắng thua bằng những hashtag, retweet và like trên mạng xã hội. Càng có nhiều người chia sẻ thông tin, thích những dòng trạng thái của ứng viên trên mạng xã hội, họ càng tiếp cận được nhiều đối tượng hơn.

Tuy nhiên, chất lượng thông tin là vấn đề lớn nhất của truyền thông xã hội. Một trong những nguyên tắc và cam kết của báo chí đối với công chúng là thông tin nhanh chóng, chính xác, khách quan. Trong khi đó, thông tin trên MXH có sự đa dạng, thậm chí là thông tin đã cố tình bị làm sai lệch, được phát tán trên MXH nhằm gây nhiễu loạn trong cộng đồng người tiếp nhận.

Báo chí phải học cách trở thành đối tác kinh doanh tốt. Những tờ báo ngày với các nhà báo, biên tập viên có đầu óc độc lập và không ngần ngại nói toạc các ý kiến của mình thường được coi là những vị vua trong thế giới của họ. Tuy nhiên, bây giờ họ phải học cách xây dựng mối quan hệ đối tác, liên minh và thậm chí phải liên kết với các công ty trực tuyến đa dạng như mạng xã hội, nhà bán lẻ, nhà cung cấp dịch vụ giải trí và những nhóm truyền thông khác.

Trong một thế giới ngày càng rộng mở với thông tin đa chiều, nếu sống mãi trong hào quang quá khứ và không chịu thay đổi, thích nghi, báo chí truyền thống chẳng mấy chốc sẽ bị lu mờ và phá sản bởi mạng xã hội.

Chương 2- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Công tác quản lý báo chí chưa chặt chẽ

Hiện nay, báo chí nước ta có sự phát triển mạnh mẽ cả về nội dung và hình thức, từng bước đổi mới để thích ứng với xu thế phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thành tựu là dòng chủ đạo, báo chí nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Một số cơ quan báo chí chưa thực hiện tốt chức năng tư tưởng, văn hóa; nhiều sản phẩm báo chí tiếp tục chạy theo xu hướng giật gân, câu khách, xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng, nhất là trong các ấn phẩm phụ, số chuyên đề, báo điện tử. Thông tin thiếu chuẩn xác,  thiếu nhạy cảm chính trị, vi phạm bản quyền có chiều hướng gia tăng.

Việc quy hoạch, sắp xếp hệ thống báo chí vẫn còn những bất cập, dẫn đến trùng lắp về nội dung, phân tán, lãng phí về nhân lực, tài chính, nhất là trong lĩnh vực truyền hình. Vai trò của nhiều cơ quan chủ quản chưa phát huy đúng mức, thiếu quan tâm, buông lỏng quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền. Công tác cán bộ của một số cơ quan báo chí chưa được chăm lo thường xuyên, toàn diện; một số trường hợp do chưa nắm bắt, giải quyết kịp thời diễn biến tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nên để xảy ra những sự cố đáng tiếc. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí tuy có tiến bộ, nhưng chưa thật gắn với thực tiễn, còn nặng về lý thuyết, thiếu, yếu về kỹ năng tác nghiệp,… Những hạn chế, khuyết điểm này đã làm giảm tính chính trị, tính văn hóa, tính giáo dục của báo chí cách mạng.

Do sự vận động, phát triển nhanh chóng của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; sự tác động của quá trình toàn cầu hóa thông tin, sự “bùng nổ” các phương tiện truyền thông trên in-tơ-nét dẫn đến những thay đổi to lớn của đời sống xã hội, truyền thông, làm cho công tác lãnh đạo, quản lý báo chí gặp nhiều khó khăn, nhiều khi còn lúng túng.

Cùng với đó, một số lãnh đạo cơ quan báo chí chưa chấp hành nghiêm kỷ luật thông tin, có trường hợp tìm cách né tránh việc thực hiện các quy định. Do chạy theo lợi nhuận, không ít cơ quan báo chí thực hiện liên kết nhưng không quản lý tốt nội dung thông tin, gây nên những hạn chế, thiếu sót, vi phạm quy định của pháp luật, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng nội dung thông tin báo chí. Không ít cơ quan chủ quản còn nể nang, thiếu kiên quyết trong xử lý vi phạm của cơ quan báo chí thuộc quyền,…

Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, phóng viên, biên tập viên hạn chế về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, tư duy chính trị, thiếu tinh thần trách nhiệm, nhận thức không sâu về tính đặc thù của báo chí với tư cách là sản phẩm hàng hóa đặc biệt nên không nghiêm túc trong việc quán triệt, tuân thủ sự chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền, thậm chí có người phai nhạt lý tưởng dẫn đến tha hóa về chính trị, đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, v.v

 

2.2. Báo chí địa phương chưa chủ động quản lý phát triển

         Trong xu thế truyền thông đa phương tiện hiện nay, cùng với báo chí Trung ương, báo chí địa phương nước ta cũng đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Điều đáng nói là tư duy báo chí của những người làm báo chí địa phương còn thiếu sự nhanh nhạy, công tác quản lý và điều hành của một số lãnh đạo còn nhiều hạn chế bởi hầu hết hệ thống báo chí địa phương ở nước ta đang hoạt động theo mô hình quản lý cũ – hệ quả của một cơ chế bao cấp kéo dài. Vấn đề đặt ra là những người làm báo chí địa phương ở Việt Nam cần phải làm gì để đón bắt và thích ứng với sự vận động, phát triển này? Công tác đào tạo cán bộ quản lý báo chí địa phương cần có những thay đổi như thế nào để thích ứng với môi trường truyền thông đa phương tiện?

Hiện nay, ở 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước đều có một tờ báo và đài phát thanh, truyền hình (PT-TH) cấp tỉnh. Ngoài ra, còn có hơn 600 đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và hàng nghìn đài cấp xã, phường, thị trấn, thôn bản trong cả nước. Ở một số địa phương còn có báo hoặc tạp chí của các sở, ngành và văn phòng đại diện của nhiều cơ quan báo chí của các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương…

Công tác quản lý báo chí ở địa phương còn những mặt hạn chế. Nhiều địa phương chưa có bộ phận, thậm chí chưa có cán bộ chuyên trách quản lý báo chí, xuất bản. Trong công tác quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình, Internet – lĩnh vực có tính đặc thù, đòi hỏi phải có kiến thức về công nghệ, kỹ thuật – trình độ, năng lực của cán bộ quản lý ở một số địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu; đa số địa phương chưa có kinh phí đầu tư trang thiết bị đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của công tác quản lý.

UBND và Sở Thông tin và truyền thông một số tỉnh, thành phố chưa nhận thức hết vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý các đài phát thanh, truyền hình thuộc quyền quản lý của mình. Một số địa phương, mặc dù có nhiều cơ quan báo chí, nhưng cho đến nay vẫn không có tổ chức bộ máy hoặc cán bộ chuyên trách giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí. Một số địa phương thực hiện việc xử lý vi phạm của cơ quan báo chí không nghiêm, có nơi không thực hiện đúng thẩm quyền

 

Thực tế hiện nay lãnh đạo các cơ quan báo chí địa phương đều ít nhiều ảnh hưởng bởi tư duy, báo chí địa phương có “lãnh địa” riêng, do vậy không cần phải vội vàng, không sợ ai chiếm mất thị trường của mình. Báo Đảng thì cứ “túc tắc” cơm, áo, gạo, tiền đã có Đảng, Nhà nước lo; đầu ra (phát hành) đã có người đón; hoạt động của các đài PT-TH phần lớn từ kinh phí ngân sách địa phương nên ỷ lại, ngại đổi mới, không cần phải nhanh nhạy, không cần phải cạnh tranh với các kênh truyền thông khác để chiếm lĩnh thông tin mới.

Hiện tượng phóng viên báo chí địa phương, đặc biệt là báo Đảng còn làm việc theo tinh thần viên chức hành chính sự nghiệp, sáng cắp ô đi chiều cắp ô về, ít sâu sát cuộc sống của cơ sở, “không động lòng” trước những vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội. Hiện tượng săn tin đối với phóng viên báo chí địa phương là một việc làm hiếm hoi, ít xảy ra. Đi lấy tin chủ yếu theo giấy mời của các cơ quan, đơn vị, địa phương, dẫn đến bài viết rất nhạt nhẽo và không đáp ứng được nhu cầu bạn đọc, làm cho tờ báo kém hấp dẫn.

2.4. Truyền thông mạng xã hội phát triển lấn át qua mạng internet.

Không chỉ tác động đến sự cải tiến về công nghệ của báo online, mạng xã hội còn giúp báo chí hoạt động công khai, minh bạch, và chuyên nghiệp hơn nhờ khả năng lan truyền siêu tốc của nó. Với mạng xã hội, một bài báo thu hút sự quan tâm của công chúng có thể được “share” hàng chục nghìn lần, tiếp cận đến hàng triệu người trong vòng vài tiếng đồng hồ, thông qua mạng lưới đan xen dày đặc của nó. Điều này khiến cho những sai sót của báo chí rất dễ bị phát hiện, và một khi được phát hiện thì rất khó để sửa chữa, bởi dù có sửa lỗi/gỡ bài báo ra khỏi hệ thống nhanh chóng, thì nó có thể đã được hàng nghìn người đọc và chia sẻ.

Nếu như báo chí truyền thống được coi là “quyền lực thứ tư”, và có chức năng giám sát, kiểm tra hoạt động của nhà nước và tổ chức, doanh, thì với sự xuất hiện của mình, mạng xã hội lại đóng vai trò “quyền lực thứ năm” trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan truyền thông. Qua đó, mạng xã hội góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm báo chí, giúp nó trở nên thiết thực hơn, chất lượng hơn, và gắn bó mật thiết hơn với nhu cầu và mong muốn của công chúng. Báo chí thời đại internet không còn là công cụ truyền thông một chiều từ tòa soạn đến độc giả nữa, mà đang dần trở thành một diễn đàn thực sự để công chúng tiếp nhận thông tin và tranh luận về các vấn đề quan tâm.

Tuy vậy, mạng lưới rộng và tính lan truyền nhanh của mạng xã hội cũng tác động tiêu cực đến xu hướng “lá cải hóa” trong nền báo chí- truyền thông Việt Nam. Lá cải hóa ở đây có thể hiểu là việc các tờ báo lợi dụng việc đưa các tin tức giật gân (hay còn được các nhà báo, phóng viên gọi là những bài “cướp, giết, hiếp”), đưa tin về người nổi tiếng trong giới giải trí hay thể thao, để thu hút sự chú ý của độc giả, từ đó dẫn đến hành vi tiêu dùng (mua báo hoặc truy cập để đọc bài báo).

Lá cải hóa có xu hướng làm lẫn lộn ranh giới giữa thông tin và giải trí, qua đó làm giảm đi chất lượng những cuộc thảo luận của công chúng (public discourse) về những đề tài quan trọng. Lý do cốt yếu nằm ở cơ chế lan truyền. Nền tảng công nghệ giúp cho việc chia sẻ đường link và thông tin giữa các cá nhân trở nên dễ dàng hơn trước rất nhiều.

Chương 3 – CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ BÁO CHÍ TRONG THỜI KỲ BÙNG NỔ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI.

3.1. Quy hoạch lại báo chí để dễ quản lý

         Tại Hội nghị Trung ương 10 khóa XI vừa qua, có một vấn đề được báo giới đặc biệt quan tâm, ấy là việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng dành thời gian thỏa luận về Đề án Quy hoạch báo chí. Hội nghị khẳng định: Báo chí là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá sâu sắc thực trạng phát triển và quản lý báo chí với những kết quả, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân cụ thể; thấy rõ xu hướng phát triển thông tin, truyền thông trên thế giới, Trung ương khẳng định sự cần thiết phải sớm ban hành và tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025. Trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, cần quán triệt quan điểm phát triển đi đôi với quản lý tốt. Phát triển báo chí theo hướng cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân.

Mục tiêu của quy hoạch là sắp xếp hệ thống báo chí gắn liền với đổi mới mô hình, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý báo chí để phát triển hệ thống báo chí theo hướng chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thông tin đa dạng của nhân dân, phù hợp với từng đối tượng, vùng, miền. Xây dựng một số cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng thông tin báo chí, thông tin trên Internet. Khắc phục tình trạng chồng chéo, đầu tư dàn trải, buông lỏng quản lý, hoạt động xa rời tôn chỉ, mục đích, thông tin sai sự thật.

Quy hoạch báo chí “ăn nhập” với Luật báo chí. Nhằm nâng cao chất lượng báo chí, tổ chức cơ quan báo chí làm sao gọn nhẹ, đồng thời giảm thiểu cấp ngân sách Nhà nước.

Đặc biệt, những cơ quan báo chí hoạt động không hiệu quả sẽ được xem xét sắp xếp và tổ chức lại cho phù hợp với quy hoạch và tình hình thực tế.

“Đừng nghĩ tới khái niệm phát triển một cách chung chung, cứ tăng số lượng gọi là phát triển, giảm bớt số lượng thì không phát triển. Cách hiểu như thế hết sức phiến diện. Đề án của chúng ta là đề án quy hoạch, phát triển và quản lý báo chí. Muốn phát triển phải quản lý và muốn quản lý phải phát triển”, (Thứ trưởng Trương Minh Tuấn).

3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để quản lý báo chí.

Trước hết, xã hội Việt Nam đang phát triển theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập với định hướng XHCN đặc thù Việt Nam, nên việc tăng cường pháp chế XHCN, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, kể cả Luật Báo chí để phù hợp với các bước tiến hiện nay và sắp tới là đòi hỏi bức thiết, khách quan.

Các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng mở rộng về quy mô, đa dạng về hình thức, phương tiện, hiện đại về công nghệ; công chúng ngày càng có văn hóa hơn, văn minh hơn, đông đảo hơn; tác động qua lại với các hiện tượng xã hội khác ngày càng lớn hơn; nên luật về báo chí hay về các phương tiện truyền thông đại chúng phải tương thích với với cả hệ thống luật và đời sống hiện đại. Hiện nay, nước ta là thành viên
WTO, có nhiều quan hệ song phương, đa phương với đa quốc gia, đa tổ chức, đa lĩnh vực. Vì vậy, Luật Báo chí và nhiều luật khác cũng phải chỉnh sửa để dễ hội nhập.

         Tại Việt Nam, Luật Báo chí được ban hành năm 1989 và được sửa đổi bổ sung năm 1999. Luật Báo chí cùng hệ thống văn bản dưới luật đã tạo hành lang pháp lý tương đối đồng bộ cho công tác quản lý lĩnh vực báo chí, bảo đảm quyền tự do báo chí, nhờ vậy, báo chí Việt Nam đã không ngừng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình và chất lượng, phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự bùng nổ của mạng xã hội, phương thức làm báo, hình thức chuyển tải nội dung thông tin và cách thức tiếp cận thông tin của người dân đã có những thay đổi lớn. Luật Báo chí hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập và không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Nhiều quy định của Luật Báo chí đã thiếu tính khả thi, đòi hỏi phải sửa đổi để đáp ứng với tình hình hiện nay và xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước.

3.3. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý báo chí

Mỗi quốc gia có điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau nên có sự khác nhau trong hoạt động và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập toàn cầu, hoạt động báo chí cần phải đáp ứng yêu cầu thu hẹp sự khác biệt về công nghệ, trình độ nghiệp vụ…. với các nước trong khu vực và thế giới.

Sự hợp tác quốc tế về quản lý báo chí phải bảo đảm vừa phát triển quan hệ, nhanh chóng hội nhập vừa bảo đảm chủ quyền, độc lập dân tộc, bình đẳng, các bên cùng có lợi. Trước hết, cần tổ chức thực hiện tốt các văn bản quốc tế quan trọng có liên quan như: Công ước toàn cầu về Luật bản quyền, Công ước Brussels về phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật…

Chủ động xây dựng các kế hoạch khảo sát kinh nghiệm quản lý báo chí ở một số nước trên thế giới; tham dự các hội nghị quốc tế liên quan đến báo chí như: Diễn đàn xã hội thông tin, Diễn đàn Liên hiệp quốc về quản lý Internet, các hội nghị Bộ trưởng Thông tin các nước ASEAN; tham gia các hoạt động chống khủng bố, chống tệ nạn xã hội, xoá đói giảm nghèo, vì môi trường sống, vì hoà bình và trực tiếp tham gia vào các tổ chức báo chí khu vực và quốc tế vì các mục đích trên.

3.4. Nâng cao chất lượng bộ máy quản lý để hoạt động có hiệu quả

Thứ nhất, cần xây dựng các quy định cụ thể, rõ ràng nhằm điều chỉnh tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa Bộ Thông tin và truyền thông với các bộ, ngành có liên quan.

Thứ hai, ở địa phương, cần xây dựng các quy định mới và cụ thể hơn để tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước cũng như để nâng cao vai trò của các Sở Thông tin và truyền thông.

Thứ ba, triển khai áp dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ quản lý hiện đại vào hệ thống quản lý nhà nước về báo chí. Với một đội ngũ cán bộ, nhân viên thiếu, trình độ có hạn, đầu việc nhiều thì đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin, phương pháp quản lý hiện đại vào hệ thống quản lý báo chí là việc làm cấp thiết. Điều đó vừa tinh giản được biên chế theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước, vừa quán xuyến công việc một cách có hiệu quả.

Ngoài ra, về cán bộ quản lý báo chí, pháp luật cần quy định hệ thống tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ phù hợp với thực tiễn, bảo đảm công tác chuyên môn của từng đối tượng. Cán bộ quản lý báo chí phải có tri thức báo chí, tri thức về khoa học công nghệ thông tin và quản lý, tri thức pháp luật. Cần có những quy định cụ thể về tuyển dụng cán bộ, sắp xếp và bố trí cán bộ. Có một tình trạng tuy không phổ biến nhưng cũng cần lưu ý là các cơ quan cấp ủy và tổ chức cấp tỉnh coi ngành nào cũng giống ngành nào, “đã là tỉnh ủy viên thì làm gì cũng được”. Do vậy, nhiều người làm trái nghề vẫn phải nhận vì “tổ chức phân công”. Cuối cùng, Nhà nước cần có chính sách đào tạo và đào tạo lại những người quản lý báo chí để theo kịp tốc độ phát triển chung của xã hội và không tụt hậu quá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

 3.5. Tăng cường thanh tra, kiểm tra báo chí.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra báo chí đang ngày càng đi vào nề nếp. “Từ năm 1999 đến nay, Bộ đã tiếp nhận và giải quyết hơn 1.750 đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh về những thông tin không chính xác trên báo chí do các cá nhân, tổ chức trong cả nước gửi tới liên quan đến gần 1.000 vụ việc” . Một số nhà báo lợi dụng uy tín nghề nghiệp làm trái với đạo đức, trách nhiệm của người làm báo, vi phạm Luật Báo chí đã bị xử lý nghiêm bằng các hình thức: cảnh cáo, tịch thu thẻ nhà báo, phê bình, khiển trách. Những người đứng đầu cơ quan báo chí có người vi phạm, do buông lỏng quản lý cũng phải chịu những hình thức kỷ luật đúng mức.

Lưu chiểu là một khâu quan trọng của quản lý nhà nước về báo chí nhằm thực hiện chức năng kiểm tra trước khi cho lưu hành nhưng hiện nay, vẫn có một số tạp chí không thực hiện nộp lưu chiểu hoặc lưu chiểu không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Điều đó dẫn đến việc phát hiện chậm các vi phạm, gây không ít khó khăn cho quá trình xử lý và để lại hậu quả phức tạp. Hơn nữa, “khối lượng công việc phải xử lý trong công tác quản lý nhà nước về báo chí ngày càng nhiều và phức tạp, trong khi đó, đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu và yếu, một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý trong tình hình mới”

Đây là nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước về báo chí vì báo chí có quan hệ trực tiếp tới chính trị. Báo chí không những phản ánh dư luận mà còn tạo ra và hướng dẫn dư luận. Vì vậy, hoạt động này cần diễn ra thường xuyên, nhanh nhạy để kịp thời ngăn chặn, xử lý những vi phạm pháp luật về báo chí.

KẾT LUẬN

Sự phát triển rầm rộ của truyền thông xã hội trong nước đặt ra không ít vấn đề về việc quản lý nội dung thông tin, đồng thời cũng đặt ra những đòi hỏi mới, phức tạp hơn và ở tầm cao hơn cho công tác quản lý nhà nước về báo chí.

Tăng cường công tác quản lý báo chí hiện nay là vấn đề cấp thiết, bảo đảm cho nền báo chí cách mạng Việt Nam phát triển lành mạnh, thực hiện tốt chức năng, phát huy hết tiềm năng, thế mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

         Công tác quản lý báo chí đòi hỏi sự góp sức của nhiều cấp, nhiều ngành, của cả cơ quan báo chí và các cơ quan làm nhiệm vụ quản lý báo chí, đặc biệt là vai trò của ngành thông tin và truyền thông. Có làm tốt công tác quản lý báo chí thì các cơ quan báo chí mới phát triển mạnh mẽ, đúng hướng, góp phần để báo chí cách mạng phát triển không ngừng, phục vụ Tổ quốc và nhân dân ngày một tốt hơn./

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cơ sở lý luận báo chí; Báo chí và dư luận xã hội – Nhà xuất bản Lao Động. Tác giả: Nguyễn Văn Dững
2. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với báo chí địa phương – Tạp chí người làm báo – Nguyễn Quang Vinh
  1. Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr. 11.
  2. Đỗ Quý Doãn, Hoạt động báo chí, xuất bản và công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản hiện nay trên http://www.tapchicongsan.org.vn
  3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí trong tình hình hiện nay trên http://tapchiqptd.vn/ – TS. TRƯƠNG MINH TUẤN, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông

 

 

 

 

 

 

 



Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>