Nâng cao hiệu quả Truyền thông đại chúng trong công tác tuyên truyền về biến đổi khí hậu.

564159

       Ngày nghỉ rảnh rỗi nên post các bài tập mình đã làm trong thời gian học Cao học lên đây cho các bạn tham khảo khi cần.

  1. Tên đề tài

         Nâng cao hiệu quả Truyền thông đại chúng trong công tác tuyên truyền về biến đổi khí hậu.

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Khí hậu là trạng thái khí quyển ở nơi nào đó, được đặc trưng bởi các trị số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước, mây, gió…Như vậy, khí hậu phản ánh giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết và nó thường có tính chất ổn định, ít thay đổi.

Trong lịch sử địa chất của trái đất chúng ta, sự biến đổi khí hậu đã từng nhiều lần xẩy ra với những thời kỳ lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng. Thời kỳ băng hà cuối cùng đã xãy ra cách đây 10.000 năm và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng. Xét về nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu này, chúng ta có thể thấy đó là do sự tiến động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của trái đất quanh mặt trời, vị trí các lục địa và đại dương và đặc biệt là sự thay đổi trong thành phần khí quyển.

Trong khi những nguyên nhân đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì nguyên nhân cuối cùng lại có sự tác động rất lớn của con người mà chúng ta gọi đó là sự làm nóng bầu khí quyển hay hiệu ứng nhà kính.

Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm…

 

  1. Tình hình nghiên cứu đề tài

         Biến đổi khí hậu là vấn đề được thế giới rất quan tâm, tại Việt Nam, có rất nhiều bài viết, bài dịch đăng tải trên các báo khoa học. Về luận văn, luận án, có vài tác giả đã thực hiện.

Tuy nhiên do công tác tuyên truyền chưa hiệu quả, báo chí VN cũng ít đề cập nên xã hội VN chưa thực sự quan tâm lắm đến vấn đề này.

Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu trên, tiểu luận của tôi sẽ làm rõ hơn về vài trò của tác phẩm báo chí trong xã hội hiện tại và so sánh với xã hội những năm đầu đổi mới.

  1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích: Bài tiểu luận sẽ đi theo hướng nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng với vấn đề biến đổi khí hậu, từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao hiệu quả.

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, tiểu luận có các nhiệm vụ sau:

– Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan truyền thông đại chúng và biến đổi khí hậu

– Khảo sát, phân tích, đánh giá tác động của truyền thông đại chúng với biến đổi khí hậu

– Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu về hiệu quả tuyên truyền biến đổi khí hậu của truyền thông đại chúng tại Việt Nam trong 2 năm gần đây.

  1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, tác giả lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

– Phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến truyền thông đại chúng, biến đổi khí hậu

– Phương pháp khảo sát, thống kê để lượng hóa một số thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đưa ra kết luận và nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

  1. Đóng góp của đề tài nghiên cứu

Đưa ra một số giải pháp mới để nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền về biến đổi khí hậu của truyền thông đại chúng.

  1. Kết cấu của tiểu luận Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 phần:

Chương 1: Tìm hiểu về biến đổi khí hậu và truyền thông đại chúng.

Chương 2. Vai trò của Truyền thông đại chúng với công tác tuyên truyền về biến đổi khí hậu.

Chương 3. Các giải pháp giúp Truyền thông đại chúng nâng cao hiệu quả tuyên truyền về biến đổi khí hậu.

NỘI DUNG

 CHƯƠNG 1. TÌM HIỂU CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

         1.1. Truyền thông đại chúng và vai trò của truyền thông đại chúng

Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng.
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những giừ người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ.
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin.

Truyền thông đại chúng là một khái niệm rộng, mỗi lĩnh vực ngành nghề trong xã hội đều có cách hiểu của riêng mình, tùy thuộc vào tác động, vài trò của truyền thông đối với lĩnh vực hoạt động ấy.
Truyền thông đại chúng, xét về phương diện xã hội học là một quá trình xã hội, đó là quá trình truyền tải thông tin đến rộng rãi công chúng. Quá trình này được tiến hành thông qua các lọai hình báo chí như báo in, báo nói, báo hình, tức là thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

5 loại hình của truyền thông đại chúng là: báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử, quan hệ công chúng

         Vai trò của truyền thông đại chúng:

Các phương tiện truyền thông đại chúng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội không chỉ là kênh chủ yếu cung cấp kiến thức và thông tin mà chúng còn là một công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách xã hội. Chúng đã trở thành một định chế trong xã hội với những qui tắc và chuẩn mực riêng. Có thể nói rằng, các phương tiện truyền thông đại chúng đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của mỗi cá nhân và tòan xã hội.

Truyền thông đại chúng được coi là một tác nhân xã hội, cơ bản tạo nên các liên kết xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi khu vực và quốc tế.

Truyền thông đại chúng có vai trò to lớn trong việc định hướng dư luận xã hội , Truyền thông đại chúng là nơi khơi nguồn dư luận xã hội, nó đã phản ánh và truyền dẫn dư luận xã hội; định hướng dư luận, có nghĩ là định hướng nhận thức; điều hòa dư luận, điều hòa tậm trạng, tâm lý xã hội.

1.2. Biến đổi khí hậu là gì?

“Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo”.

         “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu)

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6.

Người dân trên toàn thế giới đang hành động vì biến đổi khí hậu gây tác động nghiêm trọng tới đa dạng sinh học, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nước, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và đặc biệt là tình trạng sức khỏe của con người. Khí hậu càng biến đổi nhiều, thì rủi ro đối với con người và hệ sinh thái mà chúng ta sống dựa vào càng lớn. Khi trái đất nóng lên, mực nước biển được dự đoán sẽ tăng tới 1m vào năm 2100, làm ngập các vùng đồng bằng châu thổ và các vùng trũng khác, làm hàng triệu người phải di chuyển nơi cư trú và tác động tiêu cực tới nền kinh tế quốc gia, các nghành chính như nông nghiệp, sinh kế và cơ sở hạ tầng. Ở vùng châu thổ và các vùng đồng bằng, dải đất ven bờ sẽ lấn dần về phía đất liền thêm nhiều kilômet. Nhiệt độ ấm lên cũng đanglàm tăng mùa mưa, gây ra các trận bão, hạn hán khắc nghiệt và thường xuyên hơn. Các hiện tượng này dẫn đến các thảm họa về thời tiết.

Trong các hệ sinh thái tự nhiên, các loài sẽ phản ứng theo cách riêng của mình và dẫn đến khả năng các hệ sinh thái hoàn toàn mới và không quen thuộc sẽ xuất hiện. Các loài có ít khả năng thích nghi hoặc di cư được dự đoán là sẽ bị tuyệt chủng. Rất nhiều loài trong số này sống ở vùng nhiệt đới và một số mới chỉ được phát hiện ở vùng Mêkông gần đây, trong đó có Việt Nam.

Việt nam được coi là một trong các nước trên thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi hiện tượng biến đổi khí hậu,vì có đường bờ biển dài và thấp, dễ bị tác động bởi bão nhiệt đới, bão, lượng mưa lớn và hay thay đổi. Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới các hệ thống tự nhiên của Việt Nam, nền kinh tế cũng như là tổng thể dân số.

Biến đổi khí hậu có thể thấy rõ ở Việt Nam. Nhiệt độ trung bình tăng 0.5°C và mực nước biển tăng cao hơn 20cm so với 50 năm trước. Các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt như mưa to, hạn hán và ngập lụt trở nên thường xuyên hơn và bão nhiệt đới với cường độ mạnh giờ đã xảy ra ở Việt Nam. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam được dự đoán bao gồm các hiện tương như gia tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa, thay đổi trong tần suất và cường độ của các dòng khí lạnh, nhiều hiện tuợng khí hậu xảy ra, và mực nước biển ngày càng dâng.

1.3. Mối liên quan giữa Truyền thông đại chúng và Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu hiện đang là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới. Công tác nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các mặt kinh tế – xã hội, các ngành, các đối tượng khác nhau hiện đang được thực hiện tại rất nhiều quốc gia cũng như ở nước ta nhằm kịp thời có những biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam là một trong 5 quốc gia dễ bị tổn thương và có nguy cơ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu nên nghiên cứu về biến đổi khí hậu, xu thế và tác động của nó tại Việt Nam là rất cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay hiểu biết và nhận thức của công chúng về BĐKH còn chưa cao. Một trong những nguyên nhân chính là do truyền thông còn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này. Với chức năng đặc trưng là cung cấp thông tin và định hướng dư luận xã hội, báo chí và truyền thông đã và đang tiếp tục khẳng định vị thế quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại.

Truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng trong việc góp phần tăng cường nhận thức của công chúng, huy động lực lượng xã hội trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống, giảm nhẹ tác động của BĐKH. Phản ánh các vấn đề biến đổi khí hậu đã được chú ý trên các phương tiện truyền thông đại chúng và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ

Truyền thông với vai trò là phương tiện giáo dục nhận thức thông qua việc truyền tải, giải thích, tuyên truyền, vận động… góp phần tạo dư luận xã hội và môi trường thuận lợi cho việc thay đổi thái độ và hành vi của các nhóm xã hội. Bên cạnh đó, truyền thông còn có vai trò truyền đạt thông tin của các nhà quản lý, nhà khoa học đến với nhân dân và tiếp nhận ý kiến phản hồi của của các tầng lớp nhân dân.

Các phương tiện thông tin đại chúng đã bám sát đưa tin về các chủ trương, chính sách mới liên quan đến biến đổi khí hậu. Hậu quả của biến đổi khí hậu cũng được phản ánh khá đa dạng. Nhiều tác phẩm chọn được những chủ đề đặc sắc, ấn tượng, số liệu cụ thể có khả năng thu hút người đọc, người xem. Một số chuyên đề về biến đổi khí hậu đã được xây dựng và mang lại hiệu ứng cao.

Tuy nhiên, tuyên truyền về biến đổi khí hậu, thông tin đại chúng vẫn tồn tại một số vấn đề cần khắc phục. Kết quả nghiên cứu của Khoa Xã hội học (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) cho thấy, số lượng các bài báo thể hiện rõ mối liên hệ giữa thiên tai với biến đổi khí hậu còn ít, thiếu tính định hướng công chúng về vấn đề bảo vệ môi trường, hạn chế biến đổi khí hậu. Hậu quả biến đổi khí hậu được truyền tải nhưng còn chung chung, chủ yếu trên phương diện kinh tế, thể chất của con người mà chưa đề cập đến hậu quả đối với văn hóa, xã hội. Thông tin còn một chiều, chưa tạo được các diễn đàn để trao đổi

CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

         2.1. Truyền thông đại chúng nâng cao nhận thức cho người dân về hậu quả của biến đổi khí hậu.

Các phương tiện truyền thông đại chúng có trách nhiệm thông tin cho xã hội biết được biến đổi khí hậu là gì, và hậu quả của nó ra sao. Tùy từng đối tượng trong xã hội mà lựa chọn các phương tiện thông tin cho hợp lý và mang lại hiệu quả nhất.

Truyền thông đại chúng phải truyền đạt cho người dân hiểu rằng:

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế – xã hội trong tương lai. Vấn đề biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại.

Biến đổi khí hậu thực sự đã làm cho những thiên tai, đặc biệt là bão, lũ và hạn hán ngày càng khốc liệt. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Ganges (Bangladesh).

Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Chỉ tính trong 10 năm gần đây (2001-2010), các loại thiên tai như: Bão lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 9.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm.

Biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp: Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là một phần đáng kể ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long bị ngập mặn do nước biển dâng; tác động lớn đến sinh trưởng năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng; thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm.

Do tác động của biến đổi khí hậu, tài nguyên nước phải chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa, ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị và sản xuất thủy điện. Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, tăng mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước.

Trong báo cáo mới của các học giả tới từ Đại học Cornell, Đại học Arizona và Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS), trong một vài thập kỷ tới, biến đổi khí hậu sẽ gây ra những đợt siêu hạn hán
Biến đổi khí hậu kèm theo hiện tượng ấm lên toàn cầu khiến sông băng tan chảy, lũ lụt càn quét khắp nơi, gây ô nhiễm bầu không khí và nguồn nước ở nhiều khu vực trên thế giới.

Băng tan còn ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó gấu trắng Bắc Cực là ví dụ điển hình. Khu vực săn mồi của gấu trắng là những vùng đất lạnh và đóng băng, nhưng khi nơi này bị ảnh hưởng bởi hiện tượng ấm lên toàn cầu, chúng buộc phải trở thành những kẻ tấn công và ăn thịt những đứa con của chúng.

Theo các chuyên gia, hiện chưa thể xác định mối liên hệ trực tiếp một cách chính xác giữa biến đổi khí hậu và cháy rừng. Tuy nhiên, họ tin rằng sự gia tăng các vụ cháy rừng ở miền tây nước Mỹ một phần do nhiệt độ ấm dần. Giới chuyên gia dự đoán nếu nhiệt độ tăng, các vụ cháy rừng, như trường hợp ở California năm 2012, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều. Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay.

Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.

Mực nước biển dâng cao và sự xuất hiện của các cơn bão kéo theo nguy cơ lũ lụt ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Các bệnh do Biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra:

Trong thời gian qua đã phát sinh các bệnh truyền nhiễm liên quan đến BĐKH như bệnh cúm A/H1N1, cúm A/H5N1, sốt xuất huyết, sốt rét, tả, thương hàn, tiêu chảy, viêm não do virus và viêm đường hô hấp cấp tính do virus (SARS) và những ngày gần đây bệnh Cúm A/H7N9 đang xuất hiện tại Trung Quốc và dịch có chiều hướng sẽ lan rộng đến các nước láng giềng nếu không có biện pháp chủ động phòng chống dịch kịp thời.

Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra cũng ngày càng tăng theo nhiệt độ trái đất. Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô la; ngoài ra, để khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền khổng lồ. Khí hậu càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền kinh tế.

Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Người dân phải chịu cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; các chính phủ phải đối mặt với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực phẩm và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thẳng về đường biên giới…

         2.2. Truyền thông đại chúng giúp xã hội làm thế nào để giảm bớt sự biến đổi khí hậu.

Bằng những nghiên cứu và thực tiễn ứng dụng của khoa học nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Truyền thông đại chúng phải dùng sức mạnh của mình để hướng dẫn người dân làm thế nào để góp sức vào cuộc đấu tranh sinh tồn với biến đổi khí hâu.

Truyền thông đại chúng tgóp phần tăng cường nhận thức của công chúng, huy động lực lượng xã hội trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống, giảm nhẹ tác động của BĐKH.

Tại Việt Nam, mặc dù hệ thống truyền thông theo ngành dọc đã được xây dựng và hoạt động rất hiệu quả trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục…. nhưng việc phối hợp truyền thông giữa các ngành, lĩnh vực khác nhau vẫn còn nhiều hạn chế. Không những thế, kỹ năng và năng lực của các cán bộ truyền thông chuyên trách ở cấp cơ sở vẫn còn yếu kém. Ví dụ như, việc tổ chức những cuộc họp phổ biến thông tin ở cấp thông, bản thường không có sự hiện diện của lớp người nghèo nhất của cộng đồng do họ thường đi làm việc xa nhà, ở ngoài đồng, đi biển hay đi làm thuê ở xa, phụ nữ chỉ được tham gia nếu như chồng đi vắng.

Đồng bào dân tộc thiểu số, những người sống ở vùng sâu vùng xa, ngư dân vùng ven biển, sống ở các vạn chài, dễ bị thiên tai, điều kiện kinh tế khó khăn và trình độ học vấn cũng thấp hơn so với các cộng đồng khác, nên cần có sự quan tâm đặc biệt trong việc tìm kiếm và sử dụng những kênh truyền thông và thông điệp truyền thông thích hợp.

         Tiết kiệm năng lượng tại nhà Mọi người dân ở tất cả các nơi trên thế giới cùng tiến hành các biện pháp nhằm làm giảm khí nhà kính phát thải theo các cách thức họ làm trong đời sống hàng ngày. Sử dụng ít năng lượng không chỉ giúp ích cho hành tinh mà còn tiết kiệm tiền cho hộ gia đình

         Điều chỉnh bộ ổn nhiệt hoặc điều hoà lên 1,50C tiết kiệm khoảng 1 tấn CO2 một năm.

Sử dụng tủ lạnh tiết kiệm năng lượng có thể tiết kiệm được gần 1 nửa tấn CO2 mỗi năm so với sử dụng tủ lạnh thông thường.

Sử dụng cửa sổ, cửa ra vào loại cách nhiệt và làm thêm phần cách nhiệt vào gác mái và tầng hầm, nền sẽ làm giảm việc tiêu thụ năng lượng.

Sử dụng bóng đèn huỳnh quang compact dạng xoắn hiệu quả tiết kiệm hơn 75% so với bóng đèn thắp sáng thông thường.

Tiết kiệm năng lượng trên đường đi

Đi bộ, đi xe đạp, sử dụng xe dùng chung hoặc các phương tiện giao thông công cộng- tất cả các loại hình này đều phát thải ít hơn khi mỗi chúng ta đều sử dụng xe ôtô cá nhân.

Chọn các loại xe ôtô tiết kiệm nhiên liệu hiện có, như kiểu xe kết hợp điện – xăng, và luôn duy tu, bảo dưỡng xe tốt cũng sẽ làm giảm mức phát thải.

Dùng chung xe ôtô và tránh đi quãng đường ngắn bằng xe ôtô nhằm tiết kiệm năng lượng.

Giữ lốp căng nhất khi sử dụng sẽ tiết kiệm nhiên liệu hơn và giảm phát thải.

Lái xe ở tốc độ thấp hơn 5 dặm mỗi giờ so với tốc độ tối thiểu trên quãng đường đi làm hằng ngày dài 8 dặm có thể tiết kiệm 350kg khí CO2 mỗi năm.

Giảm rác thải nhà bếp

Trung bình mỗi năm một người thải lượng rác cao gấp 10 lần trọng lượng cơ thể mỗi người. 1kg rác đem chôn lấp sản xuất khoảng 2kg khí mêtan. Cách đơn giản nhất để giảm gánh nặng này là bớt việc mua sắm và thải các đồ bao gói không cần thiết.

Tái chế giấy, thuỷ tinh, nhôm, thép và các nguyên liệu khác để giảm các nguyên liệu mới, có thể giúp tiết kiệm năng lượng.

Sử dụng cả 2 mặt giấy và tái chế giấy có thể tiết kiệm 2,5kg khí nhà kính đối với mỗi kg giấy sử dụng.

Trở thành carbon trung tính (carbon neutral)

Sau khi giảm phát thải tới mức tối đa, có thể trở thành carbon trung tính/carbon bằng không (carbon neutral) bằng việc bù đắp phần còn lại. Người ta mua “tín chỉ carbon” để chuyển tiền của mình vào các dự án làm giảm sự phát thải. Với chi tiết các hoạt động hoặc năng lượng sử dụng để bù đắp, tổ chức này sẽ tính toán lượng tín chỉ carbon cần phải mua là bao nhiêu. Giá của các tín chỉ này khoảng 10USD 1 tấn CO2.

Ủng hộ sự thay đổi

Cá nhân có thể khuyến khích cộng đồng rộng lớn hơn hành động vì sự biến đổi khí hậu. Ví dụ:

Tại nơi làm việc và trường học: khuyến khích những người cùng làm việc hoặc học sinh, sinh viên chấp nhận chiến lược giảm phát thải.

Các cơ quan chính phủ và các công ty: thuyết phục nhà quản lý đầu tư các giải pháp bảo tồn năng lượng hoặc sử dụng năng lượng tái tạo được.

Các nhóm gây ảnh hưởng và đại diện chính quyền địa phương: ủng hộ các hoạt động cấp địa phương. Xem chương trình Các thành phố bảo vệ khí hậu.

Hợp tác: khuyến khích đánh giá những đóng góp của họ tới ảnh hưởng khí nhà kính và chỉ cho họ những câu chuyện thành công và các bộ công cụ sẵn có;

Chính phủ: thuyết phục các bộ trưởng tiến hành các hoạt động nhằm giảm phát thải và lập kế hoạch về các giải pháp đáp ứng.

         2.3. Truyền thông đại chúng giúp người dân hiểu được biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến sức khỏe con người như thế nào?

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là mối đe dọa lớn đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Việt Nam là một nước trong khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng ấm lên toàn cầu và mực nước biển dâng. BĐKH là mối đe dọa lớn đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” chỉ rõ “Đến năm 2020 hình thành cho mỗi thành viên trong xã hội ý thức chủ động phòng tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu” đã đặt trách nhiệm cho mỗi tổ chức và cá nhân huy động, nhân rộng các phát kiến, giải pháp, chính sách, quy trình trong thích ứng với BĐKH.

Vậy, vai trò của công tác truyền thông là phải chuyển tải thông tin và trang bị kỹ năng hành động đúng và đủ về BĐKH, tìm ra những bài học kinh nghiệm tốt, khuyếch trương những công nghệ xanh, nhân rộng được mô hình ứng phó với BĐKH cho cộng đồng, đặc biệt là tuyên truyền để các cấp, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thấy rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình, từ đó tích cực và chủ động hơn trong việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

Trước hết truyền thông để mọi người nhận rõ tác hại BĐKH đến mỗi người, rõ ràng nhất là sức khỏe. Con người có thể sinh sống và tồn tại trong một môi trường thuận lợi khi nhiệt độ không khí nằm trong khoảng từ 15-31 độ C và độ ẩm tương đối từ 60 đến 80%. Trong những năm gần đây, do BĐKH nên tác động trực tiếp đến sức khoẻ con người thông qua sự thay đổi mối quan hệ trao đổi chất, trao đổi năng lượng giữa cơ thể người với môi trường xung quanh, dẫn đến những biến đổi về sinh lý, tập quán, khả năng thích nghi của con người.

Tác động của BĐKH tới vấn đề sức khỏe thể hiện rõ rệt thông qua các vụ thiên tai như hạn hán, sạt lở, lũ quét… Nhiều bệnh gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh, nhất là các bệnh lây truyền qua các vật trung gian như sốt rét, sốt xuất huyết (muỗi), các bệnh lây truyền qua thực phẩm, bệnh lây truyền qua môi trường nước (các bệnh đường ruột, da, niêm mạc), bệnh lây truyền từ động vật và các bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về phổi…).

BĐKH hiện đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp và an ninh lương thực trên toàn thế giới. Nhiệt độ trung bình của trái đất đã tăng 1,4 độ C trong thế kỷ qua. Sự ấm lên toàn cầu luôn đi kèm với những thay đổi về thời tiết và khí hậu. Tác hại kế đến là những cơn bão có sức tàn phá lớn xuất hiện ngày càng nhiều. Động đất, lũ lụt cũng có chiều hướng gia tăng, gây phá hủy nhà cửa, công trình, hoa màu, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người. Nguy cơ sóng thần luôn đang đe dọa nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Như vậy, sự tham gia của truyền thông trong việc huy động các bên liên quan hành động tập thể hướng tới thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu là là vô cùng cần thiết. Truyền thông sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo ra một môi trường thuận lợi để mọi người có nhìn nhận đúng và có hành vi thích hợp từ những hành vi nhỏ như bỏ rác đúng quy định, đến hành vi ảnh hưởng nhiều người như không phá rừng… Truyền thông tạo sự đồng thuận cho triển khai hàng loạt các hoạt động thích ứng tầm chiến lược toàn cầu nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH như các quốc gia ký cam kết giảm thiểu tối đa “Hiệu ứng nhà kính”….

Thực tế nhiều năm qua công tác truyền thông về bảo vệ môi trường (BVMT) và  BĐKH của chúng ta có chú trọng, tuy nhiên kết quả còn nhiều hạn chế: tình trạng vi phạm quy định về BVMT còn nhiều, nhiều người tham gia tàn phá môi trường sống góp phần thúc đẩy nhanh BĐKH như phá rừng, tận diệt thủy sản… Theo Trung tâm Nghiên cứu môi trường, Viện Khoa học xã hội  cho biết: Thời gian qua, bên cạnh việc ban hành các chủ trương, chính sách liên quan đến lĩnh vực BVMT, ứng phó với BĐKH, công tác tuyên truyền đã được các Bộ, ban, ngành, các tổ chức xã hội triển khai với nhiều hình thức, nhằm từng bước nâng cao nhận thức của người dân về những tác động nguy hại, các giải pháp phòng ngừa. Tuy nhiên, đến nay, thông tin về BĐKH vẫn còn rất nhiều hạn chế. Cụ thể là nhiều chương trình truyền thông về BĐKH còn mang tính tự phát, chưa có một kế hoạch tổng thể, và chưa có sự phân biệt mức độ nhận thức, thái độ và hành vi của các đối tượng thu nhận thông tin. Do đó, hoạt động truyền thông xem việc nâng cao nhận thức như là kết quả cần đạt, chứ ít khi quan tâm đến việc thúc đẩy thay đổi hành vi của các chủ thể hướng đến thích ứng tốt hơn với BĐKH…

Để từng bước khắc phục những khó khăn trong công tác truyền thông lĩnh vực ứng phó với BĐKH, trong thời gian tới  cần dành nguồn lực thích đáng để xây dựng các hệ thống thông tin về môi trường và kêu gọi sự tham gia của người dân vào các hoạt động ứng phó với BĐKH. Xây dựng chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động của các cơ quan truyền thông đại chúng và các tổ chức xã hội. Đối với lãnh đạo các đơn vị, địa phương  cần thông suốt một cách đầy đủ, chính xác về vai trò quan trọng của công tác ứng phó với BĐKH đối với sự nghiệp phát triển bền vững của đơn vị, địa phương để có kế hoạch cụ thể tham gia BVMT ứng phó BĐKH. Bên cạnh đó, việc truyền thông, thông tin cần được đẩy mạnh và xây dựng theo một mô hình phù hợp để người dân thấy được các lợi ích cũng như vị trí, vai trò và trách nhiệm của bản thân để cùng chung tay bảo vệ môi trường, sẵn sàng ứng phó với BĐKH.

CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP GIÚP TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.

3.1. Tuyên truyền định kỳ cho người dân hiểu và đưa ra hành động giảm sự biến đổi khí hậu.

Truyền thông đại chúng cần liên kết với các ngành tài nguyên và môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng một số ngành có liên quan từ Trung ương đến địa phương để tuyên truyền định kỳ, thường xuyên và có định hướng đúng về những vấn đề liên quan đến BĐKH, giúp các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể và người dân biết, kịp thời chủ động thích ứng, phòng tránh, hạn chế thấp nhất tác hại do BĐKH gây ra.

3.2. Đẩy mạnh truyền thông về biến đổi khí hậu trong các trường đào tạo báo chí:

Nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên qua việc lồng ghép, đưa chuyên đề truyền thông về biến đổi khí hậu vào chương trình học tập, phối hợp công tác giảng dạy chuyên đề này với các Viện nghiên cứu và các cơ quan khác. Đồng thời tận dụng các phương tiện truyền thông hiện có để thực hiện các gói dự án về truyền thông biến đổi khí hậu, liên kết các cơ quan báo chí để thúc đẩy thông tin tuyên truyền về biến đổi khí hậu.

Báo chí là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền về BĐKH. Đồng thời, báo chí Việt Nam là kênh tuyên truyền trực tuyến, tác động đến đông đảo người dân, doanh nghiệp, các cấp quản lý nhanh nhất, hiệu quả nhất, tạo ra phản ứng mạnh mẽ nhất trước các sự kiện, sự cố về môi trường, về BĐKH.

Tuy nhiên, BĐKH là một vấn đề mới, cần đưa nội dung này vào giảng dạy tại các trường báo chí. Trước đây các cơ quan của Tổng cục môi trường cũng như một số tổ chức môi trường quốc tế đã có nhiều chương trình tập huấn, nâng cao nhận thức và tổ chức các chuyến đi khảo sát thực tế cho các phóng viên phụ trách lĩnh vực môi trường cũng như lồng ghép các vấn đề có liên quan BĐKH để tạo tác phẩm có giá trị xã hội cao. Chúng tôi thấy hướng nâng cao nhận thức về BĐKH cho phóng viên theo dõi, viết về lĩnh vực này như cách làm nâng cao nhận thức về môi trường là tốt, tuy nhiên, các cơ quan quản lý triển khai công tác này nên chuẩn bị chu đáo hơn, lựa chọn điểm khảo sát hợp lý để phóng viên có điều kiện tiếp cận thực tiễn. Vì đối với các nhà báo, dù chương trình nâng cao nhận thức hay khảo sát, điều họ mong nhất vẫn là một cơ hội hành nghề hiệu quả.

         3.3. Truyền thông đại chúng nên kết hợp với Bộ tài nguyên môi trường thành lập mạng lưới tuyên truyền về BĐKH.

Nhiệm vụ chính của Mạng lưới là hình thành kênh chia sẻ thông tin về các vấn đề liên quan tới biến đổi khí hậu và nước biển dâng; hỗ trợ các thành viên trong mạng lưới nâng cao năng lực ứng phó; phổ biến các mô hình, phương thức có hiệu quả trong giải quyết các vấn đề có liên quan tới biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa vào cộng đồng… Bên cạnh đó, Mạng lưới cũng phối hợp tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về ảnh hưởng và tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng; vận động các tổ chức đưa vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của vùng/tỉnh/huyện/xã

Ngoài việc thông tin kịp thời, chính xác tác động của BĐKH đối với đời sống con người, Truyền thông đại chúng cần tập trung các nội dung tuyên truyền về các chủ đề cụ thể trong việc xây dựng “vành đai” về an sinh xã hội. Đó là các nội dung về đảm bảo an ninh lương thực.

Để nâng cao hiệu quả trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của con người, sự quan tâm và tìm giải pháp ứng phó BĐKH của các ngành, các cấp, các tổ chức phi chính phủ thì báo chí rất cần sự chủ động cung cấp thông tin của cơ quan chức năng. Trong đó, các cơ quan chức năng nên có người phát ngôn về vấn đề BĐKH, thiết lập mối quan hệ hai chiều, kênh thông tin, mạng thông tin thường xuyên giữa các cấp quản lý, ngành chức năng, nhà khoa học, tổ chức phi chính phủ… với nhà báo. Có như thế nhà báo mới có những tác phẩm tuyên truyền mang tính hiệu quả cao. Các đơn vị quản lý như Hội nhà báo, ngành tài nguyên và môi trường, UBND các địa phương… cũng nên tổ chức những giải báo chí, khen thưởng các tác phẩm ấn tượng về BĐKH, nhằm tạo động lực cho các nhà báo thực hiện những tác phẩm có hiệu quả xã hội, góp phần giảm thiểu tác động của BĐKH…

         3.4. Truyền thông đại chúng cần tạo diễn đàn tuyên truyền về BĐKH:

Hình thành một diễn đàn truyền thông – báo chí về BĐKH, xem đây là “cầu nối” để các cơ quan quản lý nhà nước chủ động phối hợp và chia sẻ những thông tin mới nhất, chính thống nhất về tình hình, các hoạt động ứng phó với BĐKH trong nước, khu vực và thế giới, tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí tiếp cận thông tin nhanh cả bề rộng và chiều sâu để có những thông tin chính xác, khách quan, trung thực, có trách nhiệm.

Hiện nay, các phương tiện truyền thông đại chúng chủ yếu tập trung vào các hậu quả khủng khiếp của BĐKH và biến nó thành một nguy cơ lớn đối với con người nhưng lại hầu như không truyền tải cho người dân những thông tin về việc cụ thể cần phải ứng phó với biến đổi khí hậu. Và thực tế, ở Việt Nam hiện tại có rất ít các nghiên cứu truyền thông về biến đổi khí hậu.

Tạo một diễn đàn trao đổi, chia sẻ những vấn đề xung quanh truyền thông về biến đổi khí hậu nhằm hướng tới nâng cao hiệu quả truyền thông về biến đổi khí hậu; Trao đổi kinh nghiệm viết bài về biến đổi khí hậu trên các phương tiện thông tin đại chúng

Trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu cũng như các phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu truyền thông nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu truyền thông về biến đổi khí hậu; chia sẻ kiến thức, hiểu biết và tăng cường sự gắn kết giữa các Viện nghiên cứu, cơ quan truyền thông, lãnh đạo các lĩnh vực cũng như các bên có liên quan trong quá trình cùng hướng tới tìm kiếm giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phối hợp giữa các nước thực hiện truyền thông về Biến đổi khí hậu, việc tăng cường và hỗ trợ quan hệ hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực truyền thông về biến đổi khí hậu.

KẾT LUẬN

Truyền thông cần được xem là một công cụ quan trọng, cơ bản tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ, hành vi của con người trong cộng đồng từ đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào các hoạt động thích ứng, giảm nhẹ BĐKH

Biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng tới rất nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á với các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như bão lớn, lụt lội thường xuyên. Các nhà khoa học tiên đoán rằng sự nóng lên của bầu khí quyển sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hơn như thiếu nguồn lương thực, mất đất canh tác nông nghiệp do mực nước biển dâng cao trong những thập kỷ tới đây.

Ngân hàng thế giới gần đây đã đưa Việt Nam vào danh sách là một trong năm quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất của hiện tượng biến đổi khí hậu trong tương lai. Chúng ta cần áp dụng những giải pháp hữu hiệu nhất, lựa chọn phương thức tuyên truyền phù hợp để nâng cao nhận thức cho người dân. Mang đến một môi trường sống sạch, đẹp, phát triển lâu bền.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Truyền thông đại chúng – Tạ Ngọc Tấn – NXB Chính trị quốc gia.
  2. Truyền thông đại chúng, những kiến thức cơ bản – Trần Hậu Thái (dịch) – NXB Thông tấn 2004.
  3. Bộ Tài nguyên Môi trường (2009), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
  4. Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiếu, Trần Thục (2011), Biến đổi khí hậu và tác động ‘ Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
  5. Trần Thục (2011), Biến đổi khí hậu: Tác động và các giải pháp thích ứng, Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường, Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>