Sử dụng tính biểu cảm của ngôn ngữ trên báo mạng điện tử

2

Ngày nghỉ rảnh rỗi nên post các bài tập mình đã làm trong thời gian học Cao học lên đây cho các bạn tham khảo khi cần.

  1. Tên đề tài: Sử dụng tính biểu cảm của ngôn ngữ trên báo mạng điện tử
  2. Tính cấp thiết của đề tài

         Báo chí xuất hiện do nhu cầu trao đổi thông tin của xã hội loài người. Trong đó, ngôn ngữ là thông điệp chính, cơ bản nhất. Như vậy, có thể thấy ngôn ngữ báo chí cũng là một bộ phận trong dòng chảy quy luật phát triển của ngôn ngữ nói chung.

         Mỗi loại hình báo chí đưa đến cho công chúng một cách tiếp cận thông tin khác nhau riêng báo mạng có thể đăng được những thông tin bằng cả chữ viết, âm thanh, hình ảnh tĩnh và động nhờ vào Internet. Chính cách đưa thông tin đa chiều này đã giúp báo chí dần trở thành “quyền lực thứ tư” trong xã hội, sau quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chúng ta có thể khẳng định rằng ảnh hưởng của báo chí trong xã hội hiện đại là vô cùng lớn. Chính vì vậy, trách nhiệm của nó cũng không hề nhỏ.

Ngoài khả năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận, báo chí còn có trách nhiệm góp phần định hình ngôn ngữ, đặc biệt là những tờ báo được viết cho giới trẻ. Ngôn ngữ báo chí không phải là một vấn đề mới, nó đã được đào sâu nghiên cứu theo từng góc cạnh, từng thời kỳ phát triển. Nhưng trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, đây lại là một vấn đề nóng cần có quan tâm của toàn xã hội. Tiếng Việt đang dần bị ăn mòn bởi thứ ngôn ngữ lai căng, thiếu trong sáng, pha tạp của một bộ phận người trẻ. Do đó, báo chí phải đóng vai trò như một người dẫn đường trong công cuộc bảo tồn vào phát triển tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn.

Báo mạng điện tử là loại hình báo chí đang chiếm được lượng công chúng đông đảo nhất, cho nên việc sử dụng ngôn ngữ trên báo mạng cần được quan tâm trau chuốt, phải có những giải pháp để tăng tính biểu cảm trong việc sử dụng ngôn ngữ.

  1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích: Bài tiểu luận sẽ đi theo hướng nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để tăng tính biểu cảm của ngôn ngữ trên báo mạng.

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, tiểu luận có các nhiệm vụ sau:

– Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến ngôn ngữ báo chí.

– Khảo sát, phân tích, đánh giá tác động của ngôn ngữ báo chí đối với đời sống xã hội

– Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao tính biểu cảm trong việc sử dụng ngôn ngữ trên báo mạng điện tử.

  1. Kết cấu của bài tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu thành 3 phần:

Chương 1: Những lý luận chung về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí.

Chương 2: Thực trạng về việc sử dụng ngôn ngữ và tính biểu cảm của ngôn ngữ trên báo mạng điện tử hiện nay.

Chương 3: Các giải pháp tăng tính biểu cảm của ngôn ngữ trên báo mạng điện tử.

NỘI DUNG

Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VÀ TÍNH BIỂU CẢM TRÊN BÁO CHÍ

1.1. Ngôn ngữ báo chí là gì?

         Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng 1 hệ thống như vậy. Ngôn ngữ của con người có các tính tự tạo, tính đệ quy, tính di chuyển, và phụ thuộc hoàn toàn vào các nhu cầu của xã hội và học tập. Cấu trúc phức tạp của nó cho phép thể hiện cảm xúc rộng rãi hơn so với bất kỳ hệ thống thông tin liên lạc được biết đến của động vật.

Theo Giáo sư Hoàng Phê, ngôn ngữ là “hệ thống những âm, từ và
những quy tác kết hợp chúng, làm phương tiện để giao tiếp chung trong một cộng đồng”, đồng thời cũng là “hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo. Như vậy, có thể thấy ngôn ngữ là một khái niệm khá rộng và được hiểu một cách linh hoạt, bao gồm tất cả các yếu tố có thể chuyển tải thông tin với nhiều dạng thức khác nhau. Ngôn ngữ cuả hội họa là màu sắc, đường nét. Ngôn ngữ của điêu khắc là hình khối. Ngôn ngữ của âm nhạc là cung bậc thanh âm. Ngôn ngữ của múa là ngôn ngữ hình thể. Ngôn ngữ của một tác phẩm báo chí không chỉ đơn thuần là phần chữ mà còn có maket, ảnh, phông chữ (gồm kiểu chữ, cỡ chữ)… vì tất cả các thành tố này đều có khả năng chuyển tải thông tin tới công chúng. Nói cách khác, ngôn ngữ của một tác phẩm báo chí bao gồm toàn bộ các thành tố cấu thành, cấu trúc nên tác phẩm đó.

1.2. Tầm quan trọng của tính biểu cảm trong ngôn ngữ trên báo mạng.

Tính biểu cảm tác động mạnh đến tâm hồn người nghe, làm cho họ có những trạng thái cảm xúc nhất định theo hướng mà người viết mong đợi.

Tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí gắn liền với việc sử dụng các từ ngữ, lối nói mới lạ. giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân, tạo được sự sinh động hấp dẫn hoặc gây được ấn tượng đối với độc giả. Nguồn gốc của sự biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí là vô cùng phong phú và đa dạng. Đó có thể là việc dùng các thành ngữ, tục ngữ, ca dao…, là sự vay mượn các hình ảnh, từ ngữ, cách diễn đạt từ các tác phẩm văn học nghệ thuật, là lối nói chơi chữ, nói lái, dùng ẩn dụ… hay đơn giản chỉ là việc thể hiện sự bình giá có tính chất cá nhân.

Nếu ngôn ngữ báo chí không còn tính biểu cảm, những thông tin khô khan mà nó chuyển tải khó có thể được công chúng tiếp nhận như mong muốn, vì chúng mới chỉ tác động vào lý trí của họ. Chính tính biểu cảm vốn là hiện thân của cái hay, cái hấp dẫn mới là nhân tố tác động mạnh mẽ tới tâm hồn người đọc, người nghe, làm cho họ đạt tới một trạng thái tâm lý cảm xúc nhất định, để rồi từ đó thực hiện những hành động mà người viết vấn chờ đợi.

 Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VÀ TÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY.

2.1. Sự phát triển đa ngôn ngữ trên báo mạng điện tử.

Vào thời điểm này, chắc chắn không mấy ai tiếp tục đưa ra so sánh giữa báo điện tử với các loại hình báo chí truyền thống, bởi câu trả lời đã quá rõ ràng: Báo điện tử đang chiếm ưu thế áp đảo và nó phát triển quá linh hoạt, lại liên tục được hỗ trợ bởi những bước tiến vô cùng nhanh chóng về công nghệ và sự ra đời của ngày càng nhiều thiết bị hiện đại với giả cả dễ chấp nhận với đa số người dùng.

Chính bởi vậy, báo mạng điện tử và vấn đền sử dụng ngôn ngữ trên báo mạng điện tử đang ngày càng được quan tâm, uốn nắn sao cho chỉn chu và thẩm mỹ nhất khi đến với độc giả.

Báo điện tử do có đặc điểm đa phương tiện nên ngôn ngữ báo mạng điện tử “là sự kết hợp của ngôn ngữ thuộc nhiều loại hình báo chí, trên cơ sở ấy chữ viết làm hạt nhân” . Cụ thể, trong ngôn ngữ báo mạng điện tử có ngôn ngữ chữ viết của báo in, ngôn ngữ tiếng nói của phát thanh và ngôn ngữ bằng hình ảnh của truyền hình, song nó có sự gần gũi nhất với ngôn ngữ báo in. Điểm khác biệt giữa ngôn ngữ báo mạng điện tử và báo in là trong các thành tố ngôn ngữ báo mạng điện tử không có ngôn ngữ của kiểu chữ, cỡ chữ do phông chữ trên báo điện tử được sử dụng đồng nhất.

2.2. Đặc điểm ngôn ngữ trên báo mạng điện tử.

Tất cả các loại hình báo chí đều sử dụng ngôn ngữ để thể hiện nội dung thông tin để truyền tải đến công chúng. Nó phải đảm bảo những tính chất như tính chính xác, đầy đủ, ngắn gọn, tính đại chúng. Nhưng ngôn ngữ ở các loại hình báo chí khác nhau lại mang một số đặc điểm riêng biệt. Đối với báo mạng nói riêng, ngôn ngữ của nó luôn mang nhũng đặc điểm sau:

Thứ nhất, báo mạng sử dụng ngôn ngữ đa phương tiện, điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi người đọc tìm đến báo mạng không chỉ dừng lại ở việc đọc thông tin như trên báo in, chỉ nghe như trên phát thanh, hay xem và nghe như trên truyền hình … mà ngôn ngữ của báo mạng điện tử là kết hợp của tất cả những thứ đó –là loại ngôn ngữ da phương tiện, công chúng đến với nó có thể sử dụng hầu hết các giác quan của mình .Và như thế tất nhiên việc cảm nhận và chiếm lĩnh thông tin sẽ trở nên thuận tiện ,dễ dàng và khắc sâu hơn. Đó là điều mà cho đến nay không một loại hình báo chí nào chiếm vị trí của nó được .

Thứ hai, ngôn ngữ báo mạng có sự kết hợp nhiều phong cách trong nhiều lớp thông tin. Cụ thể trong tiếp nhận thông tin báo mạng, người ta không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin ở một tờ báo mà còn có thể liên kết với nhiều tờ báo, trang báo khác với lượng thông tin khổng lồ hơn ,đồng thời còn có thể được minh họa sinh động bằng các các tệp âm thanh hay các clip truyền hình mà công chúng chỉ cần nhấp chuột là họ sẽ hoàn toàn làm chủ mọi thông tin liên quan đến sự việc mà họ quan tâm.
Thứ ba,ngôn ngữ báo mạng ít mang dấu ấn cá nhân. Bởi lẽ nó là loại ngôn ngữ đa phương tiện sử dụng rất nhiều phương tiện truyền tải như chữ viết, hình ảnh, âm thanh,…và có thể do nhiều người thể hiện.

Thêm vào đó là trong một văn bản còn có nhiều lớp thông tin được chứa đựng với nhiều phong cách thể khác nhau, hòa quện vào nhau nên phong cách riêng của nhà báo khó lòng được thể hiện rõ nét.
Thứ tư, cũng giống như các loại hình báo chí khác, ngôn ngữ báo mạng cũng giàu bản sắc dân tộc và có tính quốc tế. Bởi lẽ nó được viết ra nhằm phục vụ tất cả công chúng ,ngôn ngữ trong sáng dễ hiểu, đại chúng để hiện tinh thần dân tộc cũng là một yêu cầu của nó ngoài ra báo mạng cũng là nơi có sự giao lưu thông tin với các nước khác, các nền văn hóa khác trên thế giới vì thế nó cũng được thiệ trên tinh thần quốc tế, sao cho khi đọc báo mạng Việt Nam bạn bè quốc tế lại có thêm cơ hội để thêm văn hóa và con người Việt Nam,đất nước Việt Nam.

Như vậy, ngôn ngữ có vai trò to lớn với con người, và vai trò to lớn này nó thể hiện trong từng lĩnh vực của cuộc sống xã hội trong đó có lĩnh vực báo chí. Ngôn ngữ trong báo chí nói chung và báo mạng nói riêng luôn có cách thể hiện riêng của mình và điều quan trọng là các nhà báo trong đó có các nhà báo mạng phải biết lựa chọn nó để sử dụng một cách phù hợp , hiệu quả,thực hiện chức năng báo chí của mình.

2.3. Thực trạng sử dụng ngôn ngữ và tính biểu cảm của ngôn ngữ trên báo mạng.

Sử dụng ngôn ngữ báo chí bừa bãi.

Báo chí vốn được coi là chuẩn mực về ngôn ngữ ở sự trong sáng và dễ hiểu, ngôn ngữ báo chí lẽ ra luôn được coi là tiêu chuẩn cho người dùng thuộc mọi tầng lớp, nhưng ngôn ngữ trên báo chí điện tử đang thực sự là một “thảm họa.” Ai đó có thể viện dẫn lý do rằng báo điện tử đòi hỏi tốc độ nhanh nên sai sót ngôn từ là điều khó tránh khỏi, song lập luận này hoàn toàn không hợp lý bởi những lỗi ngôn từ không chỉ xuất hiện trong các tin thời sự nóng theo kiểu “breaking news” mà kín đặc trong các bài viết không cần phải đua về tốc độ.

Những báo điện tử phát triển từ báo in thường có sự “chỉn chu” nhất định về ngôn từ do phải trải qua một quá trình biên tập gắt gao. Song các báo điện tử thuần túy thì dường như đang đi theo xu hướng tự nhiên chủ nghĩa về ngôn từ. Cách đây vài năm, chuyện lỗi chính tả quá nhiều trên báo điện tử những tưởng đã là bức xúc nghiêm trọng, nhưng so với tình trạng hiện nay thì vẫn còn là những lỗi đơn giản. Nhiều bài dịch trên báo điện tử không rõ nghĩa hoặc thậm chí sai nghĩa không phải là chuyện hiếm, còn việc các bài viết dùng các cụm từ sai, câu không đầy đủ là chuyện quá… thường tình.

Chưa kể có tình trạng cắt dán bài của các website khác dẫn đến “râu ông nọ cắm cằm bà kia” hoặc để sót các câu cụt mà vẫn vượt qua mọi khâu biên tập để lên mặt báo. Đáng sợ hơn là việc sử dụng ngày càng tràn lan các từ lóng mà vốn những người có học vấn gặp phải trong câu chuyện thường ngày cũng phải thấy ngượng. Điều này đặt ra câu hỏi hoài nghi về quy trình xử lý tin của các báo điện tử, phải chăng các báo này giao trách nhiệm xuất bản tin vào tay các biên tập viên quá ít kinh nghiệm hoặc thiếu trách nhiệm?

Bệnh sính ngoại trong ngôn ngữ

Đây là căn bệnh khá phổ biến của một số nhà báo, nhất là ở những nhà báo trẻ. Biểu hiện rõ nhất của căn bệnh này là việc nhà báo sử dụng một cách tràn lan, vô tội vạ ngôn ngữ nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh.

Những từ thuần ngoại, hoặc nửa tây, nửa ta được “chêm” vào nội dung bài báo, thậm chí dẫn ra làm tít … xuất hiện ngày càng nhiều.

Bệnh dùng từ không đại chúng

Một trong những nguyên tắc của hoạt động báo chí là “Tính nhân dân, tính đại chúng”. Nguyên tắc này đòi hỏi các tác phẩm báo chí phải phù hợp với trình độ hiểu biết, năng lực tiếp nhận và nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh của quảng đại quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người thầy của báo Chí cách mạng Việt Nam trong chỉ thị gởi báo “Quân Du Kích”, cơ quan của Cục dân quân thuộc bộ Tổng Tham Mưu nhân dịp báo này xuất bản số đầu tiên cũng đã yêu cầu báo về nội dung phải “viết sao cho giản đơn, dễ hiểu, thiết thực, sao cho mỗi đồng bào, mỗi chiến sĩ đều đọc được, nhớ được”

Trở lại với báo chí nước ta hiện nay, chúng ta vẫn thường bắt gặp những ngôn từ được tác giả sử dụng trong tác phẩm rất rối rắm, khó hiểu, nhiều từ chuyên môn mà chỉ những người hoạt động trong lĩnh vực chuyên nghành mới có thể hiểu được…

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG TÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ.

3.1. Sử dụng chất liệu văn học trên báo mạng điện tử

Khi nói về mối quan hệ qua lại hết sức mật thiết giữa văn học và báo chí, không thể bỏ qua một khía cạnh rằng: văn học chính là nguồn chất liệu dồi dào và quí giá cho việc sáng tạo tác phẩm báo chí.
Thực vậy, trong các tác phẩm báo chí thuộc nhiều thể loại khác nhau, chúng ta thường xuyên bắt gặp vô số các chất liệu văn học. Các chất liệu này, nếu được dùng đúng chỗ và đúng liều lượng, luôn mang lại giá trị to lớn: đó là làm cho bài báo trở nên sinh động, hấp dẫn, dễ lĩnh hội, hay nói một cách ngắn gọn là đạt hiệu quả giao tiếp cao hơn.

         Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong quá trình sáng tạo tác phẩm, những người làm báo luôn có ý thức khai thác các ưu thế của văn học và vận dụng chúng một cách linh hoạt và sáng tạo. Ở báo mạng điện tử, hình thức này càng được sử dụng phổ biến.

         Giật tít bằng chất liệu văn học

Các nhà báo đều hiểu rằng, tên của một tác phẩm báo chí bao giờ cũng chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Nhiều người đọc nội dung của bài báo chỉ vì cái tên hấp dẫn, muốn tìm hiểu nội dung chứa đựng lượng thông tin “bí hiểm” sau đó. Giám đốc đại học báo chí Lilee (Pháp) đã từng đưa ra một nhận xét rất nổi tiếng: “cái tít hấp dẫn làm cho ngay cả những độc giả lười nhác cũng cảm thấy không thể cưỡng lại nổi, thậm chí nói còn quyết định số phận của cả bài báo”. Hiểu được điều này nên trong quá trình sáng tạo tác phẩm không ít nhà báo đã vận dụng chất liệu văn học để cuốn hút sự quan tâm của độc giả.

Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở”,  (Baomoi.com); “Đánh trống bỏ dùi” (TienphongOnline); “5 cặp Thuý Kiều – Thuý Vân nổi tiếng thế giới”(Vietbao.vn); “Những cảnh đời chị Dậu ở Kennya”(VietNamnet.vn); “Khó an cư lạc nghiệp”, “Cơ hội của Thánh Gióng”, “Lính già kể chuyện Tây tiến”(Tuoitre online)…; “Sở Khanh ăn quả đắng”, “Những Lục Vân Tiên ở Sóng thần” (Vnexpress).

Chúng ta có thể bắt gặp các tít báo có vận dụng chất liệu văn học ở trên bất cứ một trang báo mạng điện tử nào và dĩ nhiên, các tít báo đó đều tạo nên những ấn tượng nhất định cho độc giả.

         Sử dụng chất liệu văn học phổ biến trong sapô

         Sapô là phần tóm tắt linh hồn của một bài báo, vậy nên việc vận dụng tri thức văn học cũng đã phần nào làm cho sapô bừng lên sức sống nội sinh cần có. Không ít phóng viên báo mạng đã sử dụng phương pháp này để tạo ra đoạn mở đầu một cách đầy ấn tượng.

“Xem ra hòn đất ném đi hòn chì ném lại, nguy cơ xuất hiện thêm những đụng độ vũ trang không phải là điều không tưởng đối với thế giới” (Xung đột vũ trang ở Trung đông – CA nhân dân và An ninh thế giới online); “Thuở yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu đánh rơi, người ta yêu nhau bằng cái tình nên lúc nào cũng thấy cháy bỏng” (Tình và nghĩa – Báo Tuổi trẻ online)… Chúng ta thấy rằng, việc vận dụng văn học, đặc biệt là những câu ca giao tục ngữ, điển tích điển cố sẽ làm cho bài báo thêm sinh động hơn, thu hút sự quan tâm của đông đảo người đọc.

Nhìn chung, việc mượn cốt truyện hay tình tiết từ tác phẩm văn học thường được dùng trong các dạng bài như bình luận, phóng sự, ghi chép, bút ký và tiểu phẩm.

Tóm lại, từ xưa, báo chí và văn học đã có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, văn học trở thành nguồn đề tài vô tận của báo chí. Các phóng viên, biên tập viên báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng đã không ngừng vận dụng các chất liệu văn học để làm hấp dẫn hơn tác phẩm của mình. 

3.2. Dùng từ ngữ địa phương làm cho câu văn có sức gợi hơn

         Các từ ngữ địa phương luôn mang đậm đấu ấn riêng về lời ăn tiếng nói của một cộng đồng người gắn liền với một vùng đất, vì thế chúng làm cho câu văn có sắc thái mới lạ, đôi khi khá giàu sức gợi.

Ví dụ : “Từ hôm qua đến bựa ni hắn không chịu ăn uống chi, cứ đòi gặp mẹ với hai em. Tôi dỗ dành nó mãi nhưng nó chỉ khóc. Tội cho nó, mới có chút tuổi đầu mà đã phải chịu nỗi đau quá lớn như vậy…” – chị Nương, hàng xóm của gia đình nạn nhân chia sẻ. (Clip – Những đứa trẻ khóc trước ban thờ mẹ – dantri.com.vn)

Các từ địa phương có thể gặp trong ngôn ngữ của tác giả cũng như ngôn ngữ của nhân vật. Các trích dẫn trong ghi âm hay clip thường được giữ nguyên giọng điệu, ngôn ngữ của người nói, cho nên ta dễ dàng nhận thấy là trong ngôn ngữ nhân vật, từ ngữ địa phương xuất hiện khá nhiều và tự nhiên, đây chính là sự phản ánh chính xác lời ăn tiếng nói của họ, vì thế tính biểu cảm của chúng có vẻ không được cao bằng so với các từ ngữ địa phương được chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi phương diện trong ngôn ngữ tác giả.

3.3. Khéo léo dùng từ ngữ vay mượn tiếng nước ngoài.

Trong các ngôn ngữ được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp… người ta có thể dễ dàng tìm thấy hàng loạt những từ mà chúng vay mượn, hoặc vốn có nguồn gốc từ những ngôn ngữ khác. Tiếng Việt của chúng ta cũng vậy. Việc vay mượn từ hoặc sử dụng những từ vốn có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác là một hiện tượng phổ biến và cũng là một thực tế tất yếu khách quan. Đó là kết quả của quá trình tiếp xúc lâu dài về ngôn ngữ và văn hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vốn từ vựng dân tộc càng chịu nhiều ảnh hưởng từ các ngôn ngữ khác trên thế giới. Có hàng loạt những khái niệm mới mà con người cần phải tiếp thu đẻ có thể bắt kịp với sự phát triển của thời đại.

Tuy nhiên, cũng giống như trong bất kỳ ngôn ngữ nào, tiếng Việt là một hệ thống bao gồm những âm tiết nhất định được kết hợp lại tạo thành từ để biểu thị cho những khái niệm.

Do đó, tiếng Việt cũng gặp phải những khó khăn, hạn chế trong việc thể hiện những khái niệm mới. Chính vì thế mà việc vay mượn từ là một lẽ tự nhiên. Những từ vay mượn và những từ có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác không chi góp phần làm giàu thêm vốn từ vựng tiếng Việt mà còn là một bộ phận quan trọng trong ngôn ngữ dân tộc phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của con người.

Tiếng Việt chủ yếu vay mượn từ tiếng Hán, tiếng Pháp và cả tiếng Anh, ngoài ra còn có một số ngôn ngữ khác, nhưng trong đó phân lớn là tiếng Hán và tiếng Pháp do lịch sử 1000 năm Bắc thuộc và quá trình đô hộ của thực dân Pháp ở nước ta.

Trên các trang báo mạng điện tử, chúng ta không khó khăn để tìm thấy các bài viết dùng từ vay mượn từ tiếng Anh:

Ví dục: Thu Phương vấp té vẫn hát hay “rụng rời” cùng 4 Diva Việt; Beckham tươi tắn “pose” ảnh cùng fan nữ xinh đẹp; 5 mẫu con gái mà các chàng trai “lắc đầu ngán ngẩm”, cùng check nhé; Phụ kiện giúp sạc smartphone nhanh hơn 92% chuẩn bị lên kệ; “Trong số đầu tiên, mời các bạn hãy cùng tìm hiểu về công việc MC – một người được đa số các teen đang tham gia và đạt được một số thành công bước đầu.”…

Những từ mượn tiếng Anh này góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng tiếng Việt giàu và đẹp. Không những thế, chúng còn đóng một vai trò khá quan trọng, đáp ứng nhu cầu biểu hiện đa dạng, phục vụ cho hoạt động giao tiếp của người Việt Nam. Trong bất kì ngôn ngữ nào trên thế giới, vốn từ vựng đều được coi là cơ sở cho mọi hoạt động giao tiếp của con người. Vốn từ vựng đa dạng, phong phú, có khả năng diễn đạt những suy nghĩ, tình cảm của con người một cách linh hoạt chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn nhân loại. Và từ mượn tiếng Anh cũng chính là một bộ phận trong vốn từ vựng dân tộc góp phần thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

 3.4. Sử dụng khẩu ngữ trên báo chí Việt Nam là xu thế tất yếu.

Một trong những biến thể của chuẩn ngôn ngữ báo chí là việc dùng từ, và cách hành văn không theo lối văn viết. Đó là việc sử dụng văn nói – Khẩu ngữ. Báo chí đã xuất hiện một bộ phận ngôn ngữ không chỉ thuộc vốn từ vựng của ngôn ngữ văn hoá được dùng trong lời nói miệng, trong sinh hoạt hàng ngày, mà còn có cả một số từ thông tục và từ lóng – những từ ngữ chuyên dùng trong khẩu ngữ. Có người cho rằng, xu hướng chung hiện nay là “hội thoại hoá” ngôn ngữ báo chí, sử dụng từ ngữ, thậm chí là cú pháp của khẩu ngữ để nó đơn giản hơn, gần gũi hơn với cuộc sống thường ngày.

Khẩu ngữ có cách diễn đạt riêng, lệ thuộc nhiều vào cảnh huống. Âm điệu, những hư từ, những từ tắt, sắc thái biểu cảm…được diễn đạt tuỳ theo suy nghĩ, đối tượng và trạng thái tâm lí, cảm xúc của người nói. Văn nói dễ hiểu, gần gũi với đời thường, phù hợp với tính cách của người nói và trình độ của người nghe.

Trong việc sử dụng từ ngữ văn nói, trên báo chí xuất hiện những từ thông tục và từ lóng. Ví dụ: “Bằng cấp đầy người, anh vẫn chỉ là một nhân viên quèn” ;“Đã qua ngày rằm mà nhiều công sở vẫn còn vắng hoe. Điện thoại réo mệt nghỉ vẫn không có ai trả lời” ; “Thực tế thì Tú chẳng có xu gỉ nào để góp vốn” . Trong thể loại bài phóng sự điều tra, khi xâm nhập vào thế giới “ngầm”, các phóng viên đã lột tả tính chất vụ việc và bản chất của kẻ tội phạm, của tệ nạn xã hội bằng chính ngôn từ, giọng điệu của chúng. “Cốp, vít” (giới quan chức có quyền thế ), “Thật khổ, giang hồ kiếm tiền dễ như bỡn, có kẻ nào lại không máu me cờ bạc, cá độ? Thắng đã tạo dựng được một “an toàn khu” ở biên giới phía Bắc, thậm chí ngay trên đất Trung Quốc làm chỗ “lặn” cho những tên lưu manh cộm cán bị “ lốc ổ”… Phải nói rằng những nhóm từ này khi góp mặt trong các bài điều tra, bình luận…đã tăng sức biểu cảm, sức lôi cuốn công chúng. Chúng vừa đời thường, dân dã, vừa phản ánh đúng tính chất sự việc. Công chúng đọc báo, nghe đài, xem truyền hình khi bắt gặp những từ ngữ này có cảm giác gần gũi với thông tin phản ánh.

Sự giao lưu, tưưng tác về mặt cảm giác giữa kênh thông tin và đối tượng tiếp nhận được tăng cường hơn. Quá trình tri nhận thông tin diễn ra gần như trong một cuộc hội thoại đời thường.

3.5. Sử dụng linh hoạt các thành ngữ, tục ngữ, ca dao…

Trong các tác phẩm báo chí, tít báo hay còn gọi là tiêu đề, là một yếu tố quan trọng, thâu tóm cô đọng nội dung chính của bài báo và cũng là yếu tố tạo nên sự chú ý, thu hút bạn đọc. Đây là một bộ phận hữu cơ trong cấu trúc tổng thể của một bài báo, là đơn vị ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào hoạt động xã hội với vai trò phản ánh tư tưởng. Đặt tít báo sao cho hay, hấp dẫn, bám sát nội dung của bài viết là một vấn đề người cầm bút luôn đặt ra cho mình. Thành ngữ, tục ngữ là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động. Đó là những lời nói ngắn gọn, hàm súc, giàu hình ảnh, là sự kết tinh kinh nghiệm, lối sống và tinh hoa văn hóa của dân tộc.

Kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam vô cùng phong phú, sinh động. Khi nói, khi viết biết vận dụng tri thức vốn có của dân tộc và biết sáng tạo thêm những thành ngữ, tục ngữ mới là cách thiết thực góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong việc đặt tít báo là một xu thế của báo chí nói chung và của các báo về thể thao nói riêng. Bằng cách đặt tít này, những bài viết trên các báo thể thao Việt Nam vừa mang phong cách hiện đại, vừa dí dỏm, hàm súc, gây ấn tượng cho người đọc.

Ví dụ như các tit báo: Ném đá dấu tay; Cá lớn nuốt cá bé; Gà nhà vẫn đá nhau; Mỗi Cây mỗi hoa và Mỗi nhà mỗi cảnh ….

Sử dụng ca dao (thơ dân gian) đê dặt tên tác phẩm báo chí. Làm báo là nghệ thuật lựa chọn. Nên mỏi nhà báo, đặc biệt là các nhà báo giỏi và có vốn văn chương uyên bác, thường rất có ý thức trong việc lựa chọn những câu ca dao hay và quen thuộc để sáng tạo tên cho bài báo, chương trình, chuyên mục. Những bài báo có tiêu đề là một câu ca dao, câu thơ, câu vẫn chiếm một tỉ lệ khá lớn và thật sự hấp dẫn người đọc, giúp họ đánh thức những trầm tích văn hoá đang ngủ yên sống dậy.

KẾT LUẬN

Báo chí không chỉ có tính khuôn mẫu, mà còn mang giá trị biểu cảm. Tính khuôn mẫu thì viết lâu thành quen, nhưng tính biểu cảm thì không thế. Tính biểu cảm làm nên cái hay, làm nên sự độc đáo của bài viết, yêu cầu nhà báo phải sáng tạo câu chữ không ngừng. Nếu người viết chỉ rập khuôn trong một vốn ngôn ngữ nhất định, nếu “kho” ngôn ngữ của bạn không được thường xuyên bổ sung, thì sẽ rất khó để nhà báo có thể tung hoành bằng chính ngòi bút của mình. Nhà báo vượt qua được sự đơn điệu, mòn cũ, xơ cứng của ngôn ngữ, cũng có nghĩa là phải vượt lên chính bản thân mình.

Để có vốn ngôn phong phú, mỗi phóng viên còn cần phải đọc sách nhiều, không chỉ đọc văn thơ, còn phải đọc cả sử, địa… để làm sao, “đụng” đến lĩnh vực nào là chúng ta có ngay vốn từ về lĩnh vực đó để viết. Những nhà báo theo dõi các lĩnh vực chuyên môn như kinh tế, giáo giục, y tế, luật pháp, nếu không phải tốt nghiệp các trường kinh tế, y tế, trường luật…, còn phải tự trang bị cho mình ngôn ngữ của những chuyên ngành này để hiểu, để vận dụng viết báo. Sách chính là sự kết tinh tinh hoa ngôn ngữ của nhân loại. Cần linh hoạt sử dụng tính biểu cảm trong bài viết để tăng giá trị, sức gợi, sức hút cho bài viết và độc giả.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ngôn ngữ báo chí, Vũ Quang Hào, NXB Thông Tấn, Hà Nội 2007
  2. Hoàng Anh, Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, NXB LĐ, H, 2003
  3. Hà Minh Đức, Cơ sở lí luận báo chí – Đặc tính chung và phong cách, NXB ĐH Quốc gia, H, 2000.
  4. Nguyễn Sông Lam, Bình Minh (tuyển chọn), 120 bài báo của chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Thanh Niên, H, 2010
  5. Hoàng Anh, Một số thủ pháp nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ báo chí, Những bài báo khoa học 10 năm (1991-2001) , Nxb Chính trị Quốc gia,2001 5.
  6. Các website: http://daotao.vtv.vn/; http://nguoilambao.vn/; songtre.vn,,.

 

 



Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>