Tiểu luận: Lịch sử các chức năng xã hội của báo chí

4

Ngày nghỉ rảnh rỗi nên post các bài tập mình đã làm trong thời gian học Cao học lên đây cho các bạn tham khảo khi cần.

  1. Tên đề tài: Lịch sử các chức năng xã hội của báo chí
  2. Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, báo chí Việt Nam vừa chịu sự tác động từ các thiết chế xã hội mà nó làm công cụ, vừa chịu sự tác động của công chúng báo chí. Với thông tin nhanh chóng, chính xác, trung thực, khách quan và đa chiều, báo chí Việt Nam đã trở thành diễn đàn của đông đảo quần chúng nhân dân, là nơi trao đổi ý kiến, luận bàn các vấn đề quan trọng của cuộc sống, để vừa giám sát, vừa phản biện hoạt động của các cơ quan công quyền nói riêng và của toàn xã hội nói chung.

Trong một thế giới luôn có sự lệ thuộc lẫn nhau hiện nay, trách nhiệm xã hội là một vấn để đang đặt ra với mỗi cá nhân, tổ chức. Báo chí cách mạng Việt Nam là một bộ phận của công tác văn hóa – tư tưởng của Đảng. Thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ đã được xác định của mình chính là phương thức đê báo chí thực hiện trách nhiệm xã hội

  1. Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề chức năng xã hội của báo chí trong đời sống xã hội đã có một số công trình nghiên cứu, tuy nhiên những công trình này chỉ nghiên cứu một vài trò nhất định trong những vài trò của tác phẩm báo chí, trên một số trang báo chuyên ngành cũng đã có vài tác giả đưa ra vấn đề, nhưng chỉ bàn luận chung chung.

  1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích: Bài tiểu luận sẽ đi theo hướng nghiên cứu các chức năng của báo chí với xã hội, từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao hiệu quả của báo chí.

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, tiểu luận có các nhiệm vụ sau:

– Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến chuyên đề lịch sử báo chí.

– Khảo sát, phân tích, đánh giá tác động của báo chí đối với đời sống xã hội

– Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chức năng xã hội của báo chí.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu về chức năng xã hội của báo chí trong từ lúc ra đời đến hiện nay.

  1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, tác giả lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

– Phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến chức năng xã hội của báo chí.

– Phương pháp khảo sát, thống kê để lượng hóa một số thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu như báo chí có đóng góp tích cực, tiêu cực cho xã hội

– Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đưa ra kết luận và nâng cao chức năng xã hội của báo chí trong xã hội hiện đại

  1. Đóng góp của đề tài nghiên cứu

Đưa ra một số giải pháp mới để nâng cao chức năng xã hội của báo chí trong giai đoạn hiện nay.

  1. Kết cấu của bài tiểu luận: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu thành 3 phần:

Chương 1: Lịch sử các chức năng xã hội của báo chí

Chương 2: Đối tượng và công chúng tác động của báo chí

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả chức năng xã hội của báo chí.

NỘI DUNG

Chương 1: Lịch sử các chức năng xã hội của báo chí

1.1. Khái niệm báo chí và chức năng xã hội của báo chí

1.1.1. Khái niệm báo chí:

Báo chí là một hình thái ý thức xã hội, lấy hiện thực khách quan làm đối tượng phản ánh. Nghĩa là đối tượng phản ánh đó phải xác thực cụ thể. – Báo chí là một hoạt động thông tin đại chúng nhất, năng động nhất trong các loại hình hoạt động truyền thông đại chúng hiện nay.

Ở nước ta, báo chí là công cụ chính trị của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức, đoàn thể xã hội, là diễn đàn của nhân dân. Vai trò của báo chí trong đời sống chính trị – xã hội thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta là chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giải phóng đất nước. Báo chí thật sự đã trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Vì vậy, ý nghĩa của thông tin báo chí rất quan trọng.   Với nội dung thông tin có định hướng đúng đắn, chân thật, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành dư luận xã hội, dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng có chủ định.

1.1.2. Khái niệm chức năng xã hội của báo chí:

Theo từ điển tiếng Việt: Chức năng là:

+ Hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan, một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể.

+ Tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái gì đó.

Như vậy, chức năng không phải là sự áp đặt một cách chủ quan, mà nó tồn tại một cách khách quan trên cơ sở của những quy luật nội tại của loại hình hoạt động.

Từ thuật ngữ chức năng báo chí (đồng nghĩa với các thuật ngữ sứ mệnh; bổn phận vốn có của báo chí, cái báo chí sinh ra để làm), ta hiểu được vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí trong đời sống xã hội.

Sự ra đời và tồn tại của báo chí đã khẳng định một cách khách quan vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí trong đời sống xã hội. Tổng hợp vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí cũng chính là chức năng xã hội của báo chí.

Toàn bộ hoạt động của con người (hoạt động có ý thức), trong đó có hoạt động báo chí luôn mang đặc điểm mục tiêu. Con người chỉ bắt tay vào hoạt động khi đã xác định được mục tiêu, dự định đạt được kết quả mong muốn. Đối với nhà báo – xác định mục tiêu hoạt động phải phù hợp với những chức năng xã hội của báo chí. Thiếu hiểu biết đầy đủ về chức năng báo chí hoạt động của nhà báo có thể sẽ mâu thuẫn với những chức năng vốn có của báo chí.

Chức năng của báo chí được hình thành không phải là do sự áp đặt một cách chủ quan từ đâu đó hay từ ai đó, mà tồn tại một cách khách quan trên cơ sở những quy luật nội tại của báo chí.

Nói về tính khách quan của những chức năng trên cơ sở của những quy luật nội tại của báo chí – C.Mác viết: “… muốn cho báo chí có thể hoàn thành sứ mệnh của mình thì trước hết cần phải không có áp lực nào từ bên ngoài vào, cần phải thừa nhận là báo chí có những quy luật nội tại của mình”.

Vậy những nhiệm vụ khách quan đó của báo chí là gì?

Do có vị trí đặc biết trong hệ thống xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến các mặt của đời sống xã hội, vai trò của báo chí không chỉ thể hiện trong số lượng các mối quan hệ, trong khối lượng và ý nghĩa của những thông tin về các lĩnh vực mà báo chí phản ánh, mà còn ở chất lượng của các mối qaun hệ đó, có nghĩa là mở rộng phạm vi chiếm lĩnh thực tế, chú ý tới các lĩnh vực mới, thu hút các đối tượng công chúng mới, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của công chúng … Do đó, nhận thức rõ nhiệm vụ khách quan (chức năng) của báo chí là rất phức tạp.

Lý luận báo chí của chủ nghĩa Mác- Lê nin và thực tiẽn hoạt động của báo chí cách mạng đã cho thấy báo chí tác động tới xã hội theo nhiều khuynh hướng, thực hiện một số nhóm chức năng: Chức năng tư tưởng, chức năng quản lý – giám sát xã hội, chức năng khai sáng – giải trí, chức năng kinh doanh ..

 

1.2. Chức năng xã hội của báo chí qua các giai đoạn phát triển của xã hội.

1.2.1. Lịch sử ra đời và chức năng ban đầu của báo chí

Những tờ báo đầu tiên ở nước ta xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX. So với nhiều nước khác, báo chí Việt Nam sinh sau đẻ muộn hơn ở các nước Châu Âu hàng mấy trăm năm. Nhưng chỉ với hơn một thế kỷ tồn tại và phát triển, báo chí Việt Nam đã có một lịch sử phong phú, mang những sắc thái riêng biệt và bước trưởng thành của nó gắn rất chặt với những biến thiên của lịch sử dân tộc

Khai sinh sớm nhất trong làng báo Quốc ngữ Việt Nam là Gia Định báo. Tờ báo tổng hợp này có khuôn khổ 25 x 32 cm, ra hàng tuần tại Sài Gòn và tồn tại suốt 44 năm sau khi phát hành số đầu vào ngày 15 tháng 4 năm 1865.

Ngay từ những ngày đầu xâm lược Việt Nam, báo chí đã được thực

dân Pháp sử dụng như một công cụ phục vụ quá trình xâm lược của Pháp. Lịch sử cũng như nội dung các báo thời kì này phản ánh rõ quá trình xâm lược của thực dân Pháp cũng như vai trò phục vụ công cuộc xâm lược của báo chí. Ví dụ ngay trong quá trình xâm lược Nam Kỳ, Pháp đã ra tờ Nam kì viễn chinh công báo năm 1861. Đến năm 1865 sau khi ba tỉnh còn lại của Nam Kỳ bị thôn tính thì tên báo được đổi là Nam Kỳ thuộc Pháp công báo và đến năm 1889, khi nền thống trị của Pháp được xác lập trên toàn cõi Việt Nam thì báo lại được đổi tên Đông Dương thuộc Pháp công báo…

Các tờ công báo này đăng tải các  nghị định, công văn, đạo luật, các chỉ thị của bộ máy thực dân, các bài diễn văn của thống đốc Nam Kỳ lưu hành chủ yếu trong đám sĩ quan và viên chức thực dân, vì vậy tất cả đều là báo bằng tiếng Pháp.

Bên cạnh những tờ công báo bằng tiếng Pháp naỳ, Pháp còn cho ra tờ báo chữ Hán Xã thôn công báo để phổ biến những quyết định, những mệnh lệnh của đội quân xâm lược tới đám chức sắc bản xứ cộng tác với Pháp. Ngoài ra, Pháp còn cho xuất bản những tờ báo phục vụ công cuộc khai thác kinh tế  như tờ Tập san của Uỷ ban canh nông Nam Kỳ) năm 1865, Công báo của Uỷ ban nghiên cứu nông, công, thương Trung Kỳ và Bắc Kỳ năm 1889…

Theo bài báo “Thử tìm long mạch của tờ báo ta” do tác giả Quán Chi khảo cứu đăng trên Trung Bắc chủ nhật từ số 101(3.3.1942) đến số 104 (29.3.1942) thì chữ quốc ngữ đã được dùng khá phổ biến ở Nam Kỳ từ trước khi tờ báo Tiếng Việt đầu tiên ra đời là tờ Gia Định báo xuất bản ngày 15/4/1865. Gia định công báo lúc đầu chỉ là một tờ tuần báo chủ yếu đăng những thông tư, chính luận của chính quyền thực dân, một số bài thơ, vài câu chuyện hài đàm, chuyện cổ tích… chưa phải là một tờ báo có tính chất thông tin và truyền bá tư tưởng. Sau Gia định báo, tờ báo tiếng Việt thứ hai là tờ Phan Yên báo xuất bản năm 1868 và Nam Kỳ địa phận xuất bản  năm 1883 cũng có nội dung tương tự.

Về thực chất các tờ báo này cũng chỉ là công cụ của Pháp trong quá trình xâm lược. Nội dung của các tờ báo chỉ đơn giản là dịch đăng  những tờ công báo tiếng Pháp sang tiếng Việt cho người Việt đọc như các công văn, giấy tờ, các văn kiện của chính quyền thực dân hoặc những tờ thông báo, cáo thị, tình hình giá cả, thuế khoá của sở thuế, phòng thương chánh, toà thị chánh… Shawn.F.Mc. Hale trong công trình nghiên cứu  “Ấn phẩm và quyền lực”của mình đã nhận xét : “Chính quyền thuộc địa Pháp cần rất nhiều tài liệu in ấn (mẫu đơn từ, hoá đơn, baó cáo…) để hoạt động một cách trôi chảy (có người đã cho rằng chính phủ thực dân cần giấy nhiều như vũ khí để giữ người dân dưới sự kiểm soát của họ)”.

Những người Việt tham gia viết báo thời kỳ này hầu hết là những viên chức của chính quyền thực dân thông thạo chữ Hán, chữ Pháp, chữ quốc nhữ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường, Lương Khắc Ninh…

Cùng với báo chí, thực dân Pháp đã sớm ban hành những đạo luật, sắc lệnh về báo chí cho Đông Dương. Sắc lệnh ngày 30/12/1898 đã đình chỉ việc thi hành luật tự do báo chí ngày 29/7/1881 của chính phủ Pháp ở Đông Dương. Theo sắc lệnh này việc thành lập một tờ báo  hay xuất bản phẩm định kì bằng bất cứ thứ tiếng nào đều có thể  bị đình chỉ bởi nghị định của quan Toàn quyền và không một tờ báo tiếng Việt nào có thể xuất bản nếu không được phép của quan Toàn quyền. Giấy phép xuất bản chỉ được cấp với điều kiện là văn bản các bài đem đăng báo phải được quan Toàn quyền Đông Dương duyệt y. Giấy phép này có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào.

1.2.2. Các giai đoạn phát triển của báo chí và sự thay đổi chức năng của báo chí với xã hội.

Từ sau chiến tranh thế giới I đến I930

Cũng từ sau chiến tranh thế giới I báo chí phát triển mạnh hơn do Pháp không giữ độc quyền báo chí như trước nữa. Nhiều người Việt Nam được phép xuất bản báo chí và đương nhiên là phải tuân theo pháp luật của chính quyền thực dân và phải chịu sự kiểm soát của chúng. Đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới I tới những năm đầu thập niên 30, báo tiếng Việt phát triển nhanh chóng cả về số lượng và nội dung.

Trong nước giai đoạn này xuất hiện nhiều Đảng phái chính trị theo những khuynh hướng khác nhau như Đảng Lập hiến, Tân Việt, Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội…Chính những tổ chức này đã khai sinh ra ở nước ta một dòng báo chí bí mật và cách mạng. Điều đáng lưu ý là các Đảng phái trên đều có hệ thống báo chí riêng của mình, các dòng báo chí đó luôn luôn đấu tranh với nhau để tuyên truyền và tập hợp lực lượng cho mình, khiến cho hoạt động báo chí ở nước ta trở nên khá sôi động.

“Ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh Niên xuất bản số đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ. Nguyễn Ái Quốc là người trực tiếp viết, biên tập, trình bày và tổ chức in ấn báo. Đó là một tờ báo khổ nhỏ, in ấn thủ công nhưng đã mang lại một ý nghĩa đặc biệt lớn lao và quan trọng- báo hiệu một bước ngoặt trong tiến trình phát triển của báo chí Việt Nam, khai sinh ra nền báo chí cách mạng, một nền báo chí chưa từng có trong lịch sử báo chí Việt Nam, một nền báo chí tiên phong lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xã hội làm ánh sáng chỉ đường, lấy mục đích giải phóng dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, sự giàu mạnh, phồn vinh của đất nước làm lý tưởng phấn đấu”

Báo chí trong thời kỳ này đóng vai trò quan trọng trong việc phát động cao trào cách mạng của công nông chống đế quốc-phong kiến, đỉnh cao là cao trào Xô viết-Nghệ Tĩnh. Cũng trong thời kỳ này, Ban lãnh đạo ở nước ngoài của Đảng được thành lập làm nhiệm vụ tạm thời của Trung ương, xuất bản tạp chí Bônsêvích làm cơ quan lý luận để thống nhất Đảng,
Báo chí trong những năm 1930-1936 đã phục vụ tích cực cho xây dựng Đảng, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng dân quyền của Đảng, kiên quyết chống đế quốc, phong kiến, chống chủ nghĩa cải lương của giai cấp tư sản và chủ nghĩa dân tộc tư sản của Việt Nam quốc dân Đảng, chuẩn bị điều kiện để đón thời cơ đưa cách mạng tiến lên một cao trào mới.

Báo chí thời kỳ cao trào cứu nước 1939-1945

Báo chí cách mạng được các đảng viên và quần chúng hết sức ủng hộ, các cơ sở cách mạng đùm bọc, giữ bí mật, nuôi cán bộ viết báo, tìm mua phương tiện in báo, đặt nơi in, tổ chức cất giấu, phát hành, sẵn sàng chủ động đối phó khi địch phát hiện, không làm lộ bí mật báo chí của Đảng. Đảng viên và quần chúng còn cung cấp tin tức, tình hình cho báo, vận động người đọc báo, góp tiền mua báo, ủng hộ báo… làm mọi việc để tờ báo tồn tại.
Tháng 8/1941, báo Việt Nam độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy danh nghĩa Việt Minh tỉnh Cao Bằng, sau mở rộng thành Việt Minh Cao Bằng-Bắc Cạn, rồi Cao Bằng-Bắc Cạn-Lạng Sơn.

Ngày 25/1/1942, báo Cứu quốc, cơ quan của tổng bộ Việt Minh ra đời. Ngày 10/10/1942, báo Cờ giải phóng, cơ quan Trung ương của Đảng xuất bản số 1. Trung ương còn xuất bản tạp chí Cộng sản làm cơ quan lý luận. Các kỳ bộ Việt Minh và tỉnh bộ Việt Minh lần lượt cho xuất bản báo của địa phương cùng với báo của các đoàn thể cứu quốc ở Trung ương: Công nhân, Thanh niên, Học sinh, Văn hóa, Tự vệ…

Báo chí phục vụ tích cực cho xây dựng lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Từ sau khi có chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa của tổng bộ Việt Minh (5/1944) và nhất là sau cuộc đảo chính Nhật-Pháp (3/1945), Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước tiến tới Tổng khởi nghĩa, một số báo của các lực lượng vũ trang từ các căn cứ kháng Nhật và khu giải phóng được xuất bản.

Chức năng báo chí giai đoạn 1945 đến 1975

Chế độ mới, nền độc lập tự do cùng những nhiệm vụ mới mẻ của cách mạng đặt ra cho báo chí những trách nhiệm mới nặng nề hơn, tầm hoạt động mới rộng lớn hơn. Sự ra đời của Đài phát thanh và Hãng thông tấn quốc gia đã mang lại không chỉ sự thay đổi diện mạo mà cả chất lượng hoạt động mới cho hệ thống báo chí cách mạng. Khi cuộc Kháng chiến chống Pháp nổ ra, cả hệ thống báo chí ấy đã lên đường đi kháng chiến, lên chiến khu Việt Bắc, vào bưng biền Đồng Tháp, tới các chiến khu, trở thành nguồn thông tin chính yếu, nguồn động viên cổ vũ mạnh mẽ, vũ khí tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cách mạng của Đảng, của dân tộc. Chính trong thử thách khắc nghiệt của kháng chiến, một loạt cơ quan báo chí mới đã ra đời – Sự thật, Nhân dân, Văn nghệ, Quân đội nhân dân, Đài tiếng nói Nam bộ, báo Nhân dân miền Nam, Lao động, Tiền phong v.v.

Những người làm báo cách mạng trong kháng chiến chống Pháp đã chia sẻ khó khăn, gian khổ, hy sinh cùng nhân dân, quân đội, đã không chỉ duy trì phát triển, đưa nguồn thông tin, tiếng nói của cách mạng, của kháng chiến đến với  đồng bào chiến sỹ trong nước và bè bạn quốc tế mà còn gùi vác, vận chuyển cả chục tấn máy in, máy phát trên vai, trực tiếp cầm súng chống càn như những người chiến sỹ. Bằng trí tuệ, tài năng, lòng yêu nước và cả máu, mồ hôi, những người làm báo kháng chiến đã hoàn thành trách nhiệm của mình, đóng góp xứng đáng vào chiến thắng chung của cả dân tộc – đánh bại thực dân xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Báo chí cách mạng thời kỳ 1955 – 1975 đã có cơ hội thuận lợi hơn để phát triển nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn, thử thách vô cùng khắc nghiệt.

Trong thời kỳ này, trong nước có hai bộ phận báo chí cùng hướng tới mục tiêu đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Đó là bộ phận báo chí cách mạng ở miền Bắc được phát triển trong điều kiện của chế độ dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và bộ phận báo chí cách mạng ở miền Nam, phát triển trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của chiến tranh và sự khủng bố, đàn áp của đội quân xâm lược Mỹ cùng chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn. Riêng miền Bắc, vào thời điểm trước thềm Đại hội lần thứ 3 Hội nhà báo Việt Nam (1962), đã có 1500 nhà báo làm việc trong khoảng 120 cơ quan báo chí các loại. Báo chí thời kỳ này đã thực sự trở thành động lực góp phần to lớn trong việc tạo dựng và tổ chức những phong trào thi đua, những cuộc vận động rầm rộ  trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị như: Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Cờ ba nhất, Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang, Thi đua hai tốt, HTX 5 tấn v.v Những tấm gương điển hình trong lao động, chiến đấu được báo chí tuyên truyền, khái quát thành những biểu tượng có sức động viên, cổ vũ mạnh mẽ.

Báo chí cách mạng ở miền Nam – như Báo chí tiền phương đã bám sát thực tế chiến đấu, có mặt ngay tại các chiến hào, tại các mặt trận ác liệt nhất, phản ánh sinh động, kịp thời cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào, chiến sỹ ta. Các nhà báo tiền phương thực sự là những chiến sỹ ra trận, vừa cầm súng, vừa cầm bút, cầm máy ảnh, máy quay phim, đóng góp xứng đáng vào chiến thắng chung của dân tộc trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cùng với báo chí cách mạng hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Mặt trận, lực lượng báo chí của những người yêu nước ở các đô thị miền Nam cũng đã góp tiếng nói đáng kể trong việc động viên lòng yêu nước, tự hào dân tộc, giống nòi, ủng hộ và cổ vũ cho những cuộc đấu tranh yêu nước hợp pháp của các tầng lớp nhân dân.

Chức năng báo chí từ 1975 đến nay:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” chỉ rõ “Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới. Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiến tiến; tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng; tiếp tục phát huy tiềm lực và ưu điểm, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, nâng cao chất lượng tư tưởng, tính hấp dẫn, mở rộng đối tượng độc giả, vươn lên hiện đại về mô hình tổ chức hoạt động, về cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ.

Báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội”

Cũng như mọi nền báo chí, báo chí Việt Nam có nhiều chức năng và nhiệm vụ. Tuy nhiên, do đặc trưng văn hóa và do là một bộ phận trong công tác văn hóa – tư tưởng của Đảng nên báo chí cách mạng Việt Nam cũng có những đặc trưng riêng. Có thể nêu một số đặc trưng của báo chí Việt Nam như sau:

Chức năng thông tin: đây là chức năng cơ bản mang tính tiên quyết của báo chí. Báo chí tồn tại và phát triển là để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của con người và xã hội. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thông tin của quần chúng càng đòi hỏi cao, đa dạng và phong phú hơn. Ngoài ra, thông tin báo chí cũng đồng thời là chất liệu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội.

Chức năng định hướng, giáo dục chính trị, tư tưởng: Định hướng, giáo dục chính trị, tư tưởng thực chất là tuyên truyền và bảo vệ hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Báo chí nước ta là công cụ tuyên truyền của Đảng, vì vậy, trước hết, cần tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân để tạo nên các phong trào, các hành động cách mạng mạnh mẽ. Đồng thời, báo chí cũng là diễn đàn của nhân dân. Báo chí phản ánh một cách trung thực tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chức năng định hướng của báo chí chính là không ngừng nâng cao nhận thức chính trị, tính tự giác của quần chúng nhân dân; đồng thời, tạo lập dư luận xã hội theo đúng định hướng tuyên truyền của Đảng.

Chức năng văn hóa, giáo dục: Báo chí là bộ phận cấu thành của văn hóa, vì thế, nó trực tiếp góp phần phát triển, bảo tồn và giao lưu văn hóa. Nó, trước hết, bồi đắp, hướng dẫn, nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân; góp phần định hướng, điều chỉnh và cổ vũ xây dựng môi trường văn hóa mới. Chức năng giáo dục của báo chí là giáo dục tư tưởng chính trị, trách nhiệm công dân, giáo dục pháp luật, trao đổi kỹ năng sống,… cho cá nhân và cộng đồng; phổ biến kiến thức, các thành tựu khoa học mới, hướng dẫn áp dụng, chuyên giao công nghệ, tham gia cổ vũ, tổ chức thực hiện.

Chức năng giám sát, phản biện xã hội: Trong xã hội hiện đại, thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng, chính thông qua sử dụng và giám sát thông tin nên báo chí thể hiện được chức năng giám sát và phản biện xã hội của mình. Chức năng này thể hiện quyền lực của báo chí trong đời sống xã hội. Giám sát xã hội của báo chí thực chất là giám sát bằng dư luận xã hội. Qua giám sát, theo dõi một cách khách quan và có định hướng mà báo chí thể hiện vai trò phản biện xã hội của mình. Phản biện xã hội theo nghĩa tích cực và xây dựng là bản chất của báo chí cách mạng.

Chức năng giải trí: Trong xã hội hiện đại, cuộc sống của con người chịu nhiều áp lực. Nhất là ở các đô thị, con người luôn trong trạng thái căng thẳng, bức bối. Đây là lý do giải thích vì sao chức năng giải trí của báo chí trong xã hội hiện đại ngày càng được quan tâm và đề cao. Giải trí không thuần túy là một chức năng của báo chí mà còn đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với báo chí.

Chức năng quảng cáo – dịch vụ: Là nguồn cung cấp thông tin cho đời sống xã hội nên quảng cáo – dịch vụ báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đã trở thành một hoạt động tất yếu. Sự quảng bá thương hiệu, thu hút sự chú ý, giới thiệu sản phẩm, hướng dẫn tiêu dùng, định hướng thị hiếu, chỉ dẫn… đang là nhu cầu không chỉ của giới kinh doanh, dịch vụ, giải trí mà còn là đòi hỏi thiết yếu của đời sống xã hội. Quảng cáo – dịch vụ là nhu cầu sống còn, nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân xã hội hiện đại.

Cùng với những chức năng cơ bản trên, báo chí cách mạng Việt Nam có những nhiệm vụ được quy định trong Luật Báo chí (sửa đổi năm 1999). Thực hiện tốt những nhiệm vụ được quy định trong Luật, trong thời gian qua báo chí đã góp phần không nhỏ vào những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới.

 

Hội Nhà báo Việt Nam đang kiện toàn về tổ chức, bộ máy, đa dạng hóa các hình thức hoạt động, giao lưu, trao đổi, bồi dưỡng nghiệp vụ, tổ chức các phong trào hoạt động… để nâng cao trình độ nghiệp vụ, khả năng tác nghiệp của các hội viên, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của xã hội.

Bản thân đội ngũ những người làm báo phải không ngừng rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức, xây dựng và rèn luyện bản lĩnh của người cầm bút để thực sự trở thành một chiến sỹ tiên phong trên mặt trận văn hóa – tư tưởng của Đảng, xứng đáng với niềm tin, sự trông cậy và kỳ vọng của nhân dân.

Chương 2: Đối tượng và công chúng tác động của báo chí

2.1. Đối tượng tác động của báo chí nói chung

Trong lý luận cách mạng Hồ Chí Minh, vấn đề “quần chúng nhân dân vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng” đã trở thành một nguyên lý xuyên suốt.

Quần chúng nhân dân là đối tượng tác động, đối tượng phục vụ chủ yếu của báo chí, đó là sự xác định dứt khoát, thể hiện tính chất tiến bộ, mới mẻ của nền báo chí cách mạng, nền báo chí nhân dân.

Tư tưởng của Bác hoàn toàn thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về một nền báo chí của nhân dân. C. Mác viết: “Báo chí chẳng qua chỉ là và phải là “biểu hiện vang dội” của những tư tưởng, tình cảm hàng ngày của nhân dân, đang suy nghĩ thật sự theo cách của nhân dân… Và báo chí sống trong nhân dân, trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và sự lo lắng của họ, tình yêu và lòng căm thù của họ, niềm vui và nỗi buồn của họ”.

Viết cho quần chúng và viết về quần chúng, đó là hai nội dung thống nhất, chặt chẽ với nhau, đòi hỏi người làm báo phải không ngừng rèn luyện, “đi sâu vào thực tiễn, gắn bó với cuộc sống đang biến chuyển mạnh mẽ”. Nhưng quần chúng không phải là đối tượng chung chung; bạn đọc của mỗi tờ báo lại có đặc thù riêng, nhu cầu, trình độ và sở thích riêng. Do đó, muốn làm tốt nhiệm vụ của mình, nhà báo phải xác định được đối tượng chính để tờ báo hướng tới phục vụ. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hoà bình của thế giới.          Nhưng một tờ báo của nhân dân, báo của công dân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ… nên có đặc điểm của nó, về hình thức thì không rập khuôn, rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán”.

Sự đa dạng trong chỉnh thể thống nhất, đó là yêu cầu Bác đặt ra cho báo chí cách mạng. Bản chất của báo chí cách mạng là gắn bó với nhân dân, phản ánh đầy đủ sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Nhưng bản chất cách mạng còn là sáng tạo trong thể hiện, đổi mới trong phong cách. Cơ sở đầu tiên để đạt đến điều đó chính là sự đa dạng về đối tượng phục vụ: “báo của nông dân”, “báo của thanh niên”, “báo của phụ nữ”… mỗi tờ báo một tiêu chí, một bản sắc. Bản sắc của mỗi tờ báo sẽ là chất gắn kết, tạo dựng mối quan hệ mật thiết giữa báo chí và những công chúng chủ yếu của mình.

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng có vai trò to lớn trong việc tác động vào đời sống, hình thành dư luận xã hội. Nhưng báo chí cũng là một “kênh” để những lực lượng đối địch thu thập thông tin nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng. “Giữ bí mật” là một yêu cầu sống còn, thể hiện trách nhiệm và bản lĩnh của người làm báo. Thông tin hay, chính xác, kịp thời, nhưng không được để kẻ địch lợi dụng chống phá ta. Mặt khác, báo chí cũng phải góp phần tạo dựng hình ảnh tốt đẹp, về sự nghiệp cách mạng, về dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của bè bạn tiến bộ trên thế giới.

Bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, đòi hỏi ở nhà báo tinh thần trách nhiệm, thái độ nhạy cảm và thận trọng trong xử lý thông tin. Đã có hiện tượng một vài tờ báo thông tin quá đà, làm lộ bí mật quốc gia; thông tin sai lạc, ảnh hưởng không tốt tới hình ảnh đất nước trong mắt bạn bè quốc tế. Đó là điều phải nghiêm túc xử lý và rút kinh nghiệm. Nhưng có lẽ, hiện tượng phổ biến và nguy hại không kém là thái độ lẩn tránh trách nhiệm “mũ ni che tai” trước yêu cầu thông tin của quần chúng nhân dân. Đã nảy sinh trong không ít nhà báo tư tưởng “an phận”, giữ cho mặt báo “sạch sẽ”, tránh va chạm, mà không quan tâm đầy đủ đến nhu cầu thông tin và được thông tin chính đáng của công chúng.

2.2. Những tác động của báo chí đối với công chúng trong đời sống xã hội .

Công chúng báo chí là đối tượng mà báo chí hướng vào để tác động, nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình.

Đồng thời, công chúng còn tương tác trở lại, giám sát, quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí – truyền thông.

Công chúng báo chí là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí hướng tác động của mình vào để cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin, thuyết phục gây ảnh hưởng để có thể làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của họ theo mục đích thông tin nhất định . Về khía cạnh kinh tế, công chúng báo chí là khách hàng của cơ quan báo chí; trên khía cạnh xã hội, là lực lượng quan trọng, quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí.

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các phương tiện truyền thông hiện đại đang là công cụ tốt nhất để giúp cho báo chí truyền tải một lượng thông tin khổng lồ đến với công chúng. Chính vì vậy, báo chí cũng có ảnh hưởng ngày càng to lớn trong việc thúc đẩy tiến trình các sự kiện. Nói cách khác, báo chí không chỉ đơn thuần là người đưa tin, phản ánh thụ động các sự kiện; nó còn đóng vai trò ngày càng tích cực, tham gia trực tiếp vào các sự kiện như một trong những yếu tố, những điều kiện thúc đẩy và quy định chiều hướng vận động của các sự kiện. Bản chất của vai trò đó chính là áp lực của dư luận xã hội do báo chí tạo ra.
Nhìn ở một góc độ khác, báo chí cũng đã tạo ra ảnh hưởng to lớn về văn hóa, lối sống xã hội. Nhiều hình ảnh, kiểu mốt, ngôn từ và cách hành xử thể hiện trong các chương trình truyền hình, các trang báo đã nhanh chóng xâm nhập vào cuộc sống. Trong thực tế hiện nay, người ta có thể dễ dàng nhận thấy ở tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên những kiểu tóc, màu tóc, mốt quần áo của các cầu thủ bóng đá, các ca sĩ, diễn viên điện ảnh nổi tiếng, các nhân vật trong các chương trình phim truyền hình nước ngoài. Đó chính là minh chứng tác động của báo chí đối với công chúng trong đời sống xã hội.

Hoạt động tuyên truyền báo chí, về cơ bản, đã tác động tích cực đến đời sống xã hội, định hướng chính trị tư tưởng và dư luận, góp phần làm cho nhân dân nhận thức đúng tình hình, đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và xu thế đi lên của đất nước ta.

Về trách nhiệm xã hội của nhà báo. Khi đặt vấn đề trách nhiệm của nhà báo, nhiều người đồng tình là nhà báo trước hết phải có trách nhiệm đối với xã hội. Đây là trách nhiệm của nhà báo đối với Nhà nước và xã hội khi thực hiện chức nghiệp của mình. Không thể có được sự chân thật, khách quan nếu nhà báo không có trách nhiệm xã hội. Trong nghề báo, thông tin được hiểu như là một của cải xã hội chứ không phải là một sản phẩm thông thường. Điều đó có nghĩa là nhà báo chia sẻ trách nhiệm về thông tin được loan truyền. Do đó, nhà báo không chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý, mà xét cho cùng còn chịu trách nhiệm trước toàn bộ công chúng với những lợi ích xã hội đa dạng.

Thông tin báo chí có tính xã hội rất cao, đáp ứng đa dạng sự quan tâm, sở thích và nhu cầu, tác động cùng lúc tới nhiều tầng lớp nhân dân. Vì vậy, sức ảnh hưởng của nó tới toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực là rất lớn. Từ đó mà báo chí giống như một thứ quyền lực có tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của con người trong xã hội.

Như vậy, với những vấn đề nêu trên, khi đưa thông tin lên báo chí, nhà báo phải có đầy đủ ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và phải có bản lĩnh chính trị của người làm báo. Muốn có được những phẩm chất ấy, nhà báo phải kỳ công học tập, rèn luyện không ngừng trên cơ sở lý luận nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, khoa học xã hội… cộng với thực tiễn của quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình.

Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với báo chí. Đây là mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các cơ quan báo chí trong việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính tri, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương. Và nhiệm vụ này luôn được đặt lên hàng đầu trong các nhiệm vụ. Các cơ quan nhà nước chủ động triển khai các nội dung chương trình, kế hoạch phát triển của ngành, lĩnh vực mình phụ trách, thông qua các kênh của báo, đài phổ biến rộng ra toàn xã hội nhằm thống nhất nhận thức và hành động. Trong quá trình này, báo chí thực hiện thông tin hai chiều, phản ánh những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, về ý chí, nguyện vọng của nhân dân giúp cơ quan nhà nước nắm được tình hình để chỉ đạo chính xác, kịp thời. Đó là yêu cầu rất cần thiết và rất quan trọng.

Chương 3. Các giải nâng cao hiệu quả chức năng xã hội của báo chí:

3.1. Đảng và nhà nước cần tạo điều kiện cho báo chí hơn nữa:

Để báo chí thực hiện tốt những trách nhiệm xã hội nặng nề của mình, trước hết, Đảng và Nhà nước cần không ngừng chăm lo, tạo điều kiện hơn nữa để các nhà báo có đủ kiều kiện thuận lợi hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

         3.2. Nâng cao nghiệp vụ của hội nhà báo Việt Nam

Hội Nhà báo Việt Nam cần kiện toàn về tổ chức, bộ máy, đa dạng hóa các hình thức hoạt động, giao lưu, trao đổi, bồi dưỡng nghiệp vụ, tổ chức các phong trào hoạt động… để nâng cao trình độ nghiệp vụ, khả năng tác nghiệp của các hội viên, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của xã hội.

3.3. Người làm báo phải tự rèn luyện chuyên môn:

Bản thân đội ngũ những người làm báo phải không ngừng rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức, xây dựng và rèn luyện bản lĩnh của người cầm bút để thực sự trở thành một chiến sỹ tiên phong trên mặt trận văn hóa – tư tưởng của Đảng, xứng đáng với niềm tin, sự trông cậy và kỳ vọng của nhân dân.

3.4. Nâng cao chất lượng thông tin giáo dục trong mỗi tác phẩm

Gia tăng số lượng và chất lượng thông tin, nâng cao tính tư tưởng, sự hấp dẫn của các tác phẩm báo chí hay các chương trình phát sóng. Báo chí phải tác động mạnh mẽ, tích cực đến tính tích cực xã hội của công dân bằng sự hấp dẫn, tính thuyết phục của thông tin. Khi công chúng thừa nhận những giá trị văn hóa tinh thần đích thực họ sẽ tự bảo vệ mình trước sự tấn công và ảnh hưởng của văn hóa độc hại. Trình độ văn hóa sẽ là nền tảng cho việc tiếp thu và hình thành những tư tưởng sâu sắc hơn, và ngược lại, những tư tưởng đó lại tác động, quy định việc lựa chọn thưởng thức những giá trị văn hóa đích thực.

3.5. Tác phẩm báo chí phải hướng công chúng tới giá trị văn hóa đích thực

Tác phẩm báo chí nhận xét, phân tích, phê phán những gì phi văn hóa tác động đến công chúng. Thực ra đây cũng là hoạt động phản tuyên truyền trong lĩnh vực văn hóa – phân tích rõ tính chất độc hại, không thích hợp, phi nhân văn của các sản phẩm văn hóa rẻ tiền, kích thích những thị hiếu tầm thường … nhằm hướng công chúng tới những giá trị văn hóa đích thực của dân tộc và của nhân loại.

3.6. Tòa soạn nên thường xuyên thăm dò công chúng của mình để điều chỉnh tác phẩm báo chí phù hợp.

Thường xuyên thăm dò (thông qua các đợt khảo sát, điều tra xã hội học) nhằm đánh giá thái độ của công chúng với những sản phẩm của cơ quan báo chí. Đây là một công việc hết sức quan trọng và cần được tiến hành một cách khoa học, định kỳ, có sự đối chiếu so sánh qua mỗi giai đoạn, đặc biệt sau mỗi sự thay đổi, cải tiến của cơ quan báo chí, từ đó có sự điều chỉnh một cách phù hợp và hiệu quả.

Để nâng cao chất lượng các ấn phẩm báo chí, Ban Biên tập luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào làm báo.

 

KẾT LUẬN

Báo chí đang ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn những nhân tố tích cực và nhiều điển hình tiên tiến trong sản xuất và chiến đấu, góp phần đưa kinh tế đất nước phát triển cùng với sự phát triển chung của thế giới. Báo chí là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp và nhà quản lý, hoạch định chính sách giúp Nhà nước điều chỉnh những chủ trương, đường lối cho phù hợp với thực tiễn. Báo chí còn tham gia một cách đồng cảm trên mặt trận đấu tranh tham những, chống tiêu cực và tệ nạn xã hội. Với số lượng báo ngày càng tăng và chất lượng ngày càng tốt đã tạo niềm tin và tạo thành một nhu cầu cần thiết cho nhân dân.

Chức năng xã hội của Báo chí là nhân tố, là phương tiện có sức mạnh đặc biệt to lớn trong việc định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội. Do đó, mọi sự phản biện xã hội trên báo chí, phải xuất phát từ cái tâm trong sáng của nhà báo Việt Nam vì lợi ích của quốc gia dân tộc, vì quyền lợi chính đáng của nhân dân và phải nhằm tạo nên sự đồng thuận cao trong xã hội. Báo chí cần thực hiện nhiệm vụ là kênh thông tin hữu ích giúp Đảng, Chính phủ lãnh đạo, điều hành và quản lý tốt hơn mọi lĩnh vực trong cuộc sống, lấy mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm phương châm hành động và điều này cần thể hiện ở mọi nội dung đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng./

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. “Cơ chế tác động của báo chí”- Nguyễn Văn Dững / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 116-125
  2. Tổng quan lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam 1925 – 2010, NXB Chính trị Quốc gia
  3. Về diện mạo báo chí Việt Nam: Tiểu luận và chân dung, Phan Quang, NXB Chính trị Quốc gia
  4. 80 năm Báo chí Cách mạng Việt Nam – những bài học lịch sử và định hướng phát triển.
  5. C.Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập; Tập 1
  6. Wikipedia Tiếng Việt
  7. http://nghebao.vn/
  8. http://tailieu.vn/

 

 

 

 

 

 

 



Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>