TRUYỀN HÌNH VIÊT NAM TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI -THÁCH THỨC, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

1370056874_VH.01

Ngày nghỉ rảnh rỗi nên post các bài tập mình đã làm trong thời gian học Cao học lên đây cho các bạn tham khảo khi cần.

MỤC LỤC

 

MỞ ĐẦU.. 2

NỘI DUNG.. 3

CHƯƠNG 1: KHAI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM.. 3

1.1. Chức năng và nhiệm vụ: 3

1.2. Chặng đường phát triển của Truyền hình VN.. 4

CHƯƠNG 2: THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CỦA TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 5

2.1. Những thay đổi khi kỷ nguyên Internet xuất hiện. 5

2.2. Đất nước hội nhập, Truyền hình cũng phải hội nhập: 6

2.3. Xu hướng xã hội hóa Truyền hình: 8

2.4. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các kênh truyền hình với nhau: 11

Chương 3 – GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN HÌNH TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 15

3.1. Tăng cường công tác quản lý. 15

3.2. Xây dựng dội ngũ lãnh đạo quản lý công việc: 17

3.3. MC truyền hình cần phải thay đổi cho hiện đại mới mẻ để khắc phục sự nhàm chán. 18

3.4. Truyền hình Việt Nam phải lên kế hoạch cạnh tranh với các loại hình báo chí truyền thông khác:  18

KẾT LUẬN.. 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 23

TRUYỀN HÌNH VIÊT NAM TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI THÁCH THỨC, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

MỞ ĐẦU

“Những thành tựu kỳ diệu của khoa học – kỹ thuật và công nghệ từ thế kỷ XX với việc tạo ra những phương tiện truyền thong hiện đại đã thu hẹp trái đất lại khiến không còn một khu vực nào trên thế giới sống lẻ loi cô lập”(www.vtv.vn).

Bên cạnh sự tồn tại của phương tiện truyền thông đã có từ lâu như báo in và phát thanh, vào thế kỷ XX truyền hình đã ra đời như một bước đột phá về khả năng truyền tải được các loại hình âm thanh, hình ảnh, màu sắc, truyền hình ra đời đã đáp ứng được nhu cầu nghe nhìn của cả thế giới. Không nằm ngoài quy luật chung, tuy có ra đời muộn hốn với truyền hình các nước Châu Âu: Anh, Đức,Pháp… nhưng vào cuối thể kỷ XX truyền hình đã xuất hiện ở Việt Nam. Trước đây đã có nhà khoa học nhận định rằng thế kỷ XX là thế kỷ “bá chủ” của truyền hình. Và ở Việt Nam sự phát triển của hệ thống truyền hình từ trung ương đến đia phương đã làm cho đời sống báo chí ngày càng sôi động hơn.

Đài truyền hình việt nam với tư cách là một đài truyền hình quốc gia đã và đang giữ vai trò rất quan trọng trên mặt trận công tác tư tưởng của Đảng. Ngoài ra đài truyền hình cũng là nơi cung cấp thông tin mọi mặt trong cuốc sống cho nhân dân Việt Nam và Kiều bào nươc ngoài một cách chính xác và nhanh chóng nhất, cho nên Đài đang nhận được sự ủng hộ to lớn của nhân dân cả nước. Để có được bước tiến vũng chắc và lấy được niềm tin lớn lao nơi công chúng, cho đến nay Đài truyền hình đã phải trải qua một công đoạn phát triển hết sức lâu dài, đầy những khó khăn và thử thách. Và thử thách ấy không ngừng tăng lên, khi Việt Nam gia nhập wto, hòa chung vào sự phát triển của thế giới.

Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nhiều phương tiện truyền thông hiện đại ra đời, các loại hình truyền thông xuất hiện từ trước thì không ngừng cải tiến, đổi mới, nên giữa các phương tiện truyền thong có sự tương tác mạnh mẽ, sự cạnh tranh ngày càng lớn, đây chính là thách thức lớn đối với nhà Đài. Thế giới chuyển mình hướng tới một xã hội tiên tiến, hiện đại, những luồng thông tin tràn ngập trên đời sống, điều này là một cơ hội để tất cả các phương tiện truyền thong mở rộng kết nối, khẳng định vị trí đứng của mình với công chúng, truyền hình cũng là lĩnh vực được công chúng quan tâm, chú ý, cho nên ngoài là điều kiện là cơ hội thì cũng chính là thách thức của Đài truyền hình Việt Nam, bởi không chỉ khẳng định vị trí của mình đối với công chúng trong nước mà còn phải vươn xa ra các nước khác, liệu nhà Đài có làm được điều này, có khẳng định được vị trí của loại phương tiện truyền thong số 1?- Đây là một câu hỏi lớn, mà nhà đài còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa, áp dụng những tiến bộ trong lĩnh vực truyền thông để cũng đưa Việt Nam vượn ra thế giới.

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHAI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

1.1. Chức năng và nhiệm vụ:

Đài Truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch vụ công; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình truyền hình.

Đài Truyền hình Việt Nam viết tắt bằng tiếng Việt là THVN; có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là: Vietnam Television, viết tắt là: VTV.

Đài Truyền hình Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động báo chí và tần số phát sóng.

1.2. Chặng đường phát triển của Truyền hình VN

Sau hơn 40  năm ra đời và có hoạt động gắn liền với sự nghiệp kinh tế chính trị của đất nước “ truyền hình quảng bá” đã  phát triển hệ thống mới – truyền hình trả tiền”. Hãy nhìn về sự nghiệp truyền hình Việt Nam trong thời gian qua.

Quan điểm của Việt Nam trên lĩnh vực truyền hình là phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững,  tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới  phù hợp với điều kiện Việt Nam,  sử dụng các phương thức, công nghệ truyền dẫn phát sóng phù hợp, hỗ trợ cho nhau, quan tâm thích đáng đến phương tiện thu xem đơn giản nhất của người dân đã có sẵn (phương tiện thu xem bằng Anten thông thường), đặc biệt, là các hộ có nhu cầu xem truyền  hình quốc gia tại các vùng tập trung dân cư với quy mô khác nhau.

Phát triển sự nghiệp truyền hình gắn kết các yếu tố nội dung, kỹ thuật, kinh tế, các đài truyền hình không ngừng đổi mới công nghệ truyền hình, hiện đại hóa hệ thống sản xuất chương trình, truyền dẫn phát sóng. Các đài đã tiến hành đào tạo nhân viên làm chủ kỹ thuật, phát triển truyền hình theo hướng hội tụ số với các dịch vụ  khác như viễn thông, Internet và các dịch vụ gia tăng khác. Đồng thời tiến hành xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình…

Sự chuyển mình từ truyền hình quảng bá để sản sinh thêm mô hình mới! truyền hình trả tiền. Chúng ta những người có trách nhiệm và có tâm, có tầm trong lĩnh vực nghệ thuật tổng hợp này đã trăn trở về hướng phát triển của nó. Đồng thời, lo ngại cho túi tiền của bà con nghèo. Vì thông tin tốt và hấp dẫn thường nằm trong những gói truyền hình trả tiền, có ấn định mức thu phí! Truyền hình Việt Nam cũng giống như truyền hình các nước trên thế giới là đối diện với thực tế Cơ hội và Thách thức!

CHƯƠNG 2: THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CỦA TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

2.1. Những thay đổi khi kỷ nguyên Internet xuất hiện

Thế giới truyền thông đang thay đổi nhanh chóng với làn sóng Internet thứ hai – Internet trên di dộng, kéo theo sự thay đổi của khán giả truyền hình. Khán giả truyền hình trong kỷ nguyên Internet ngày càng phân mảnh với yêu cầu xem truyền hình mọi nơi, mọi lúc trên mọi thiết bị.
2.1.1. Thách thức đặt ra cho truyền hình khi Internet xuất hiện:

Đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong kỷ nguyên Internet không chỉ còn giữa các Đài Truyền hình với nhau mà tiềm tàng nhất chính là các các tập đoàn truyền thông, Internet, báo điện tử… Đây là các đại diện tiêu biểu của lĩnh vực truyền thông mới khi thời gian khán giả sử dụng Internet, mạng xã hội ngày càng tăng và thời gian xem truyền hình truyền thống ngày càng sụt giảm, đặc biệt là giới trẻ. Điều này dẫn đến xu thế chuyển dịch quảng cáo từ truyền hình sang không gian số. Đây là thách thức lớn nhất và không tránh khỏi mà các Đài Truyền hình phải đối mặt trong kỷ nguyên Internet.

2.1.2. Cơ hội xen lẫn khó khăn của Truyền hình:

Tuy nhiên truyền thông mới cũng mang lại cơ hội lớn cho các nhà sản xuất nội dung, trong đó truyền hình là nơi nắm giữ nguồn tài nguyên phong phú nhất. Cho nên việc nắm bắt cơ hội, sẵn sàng đón đầu thách thức, thay đổi tư duy chiến lược của Đài Truyền hình theo hướng truyền hình đa phương tiện là vấn đề cần được quan tâm trong kỷ nguyên truyền thông mới. Cùng với việc nâng cao chất lượng nội dung chương trình cần phải có hợp đồng về bản quyền sản phẩm để tích hợp trên nhiều thiết bị, nền tảng khác nhau như mạng xã hội, ứng dụng trên điện thoại… giúp khán giả tiếp cận truyền hình một cách dễ dàng nhất.

Các nhà đài nên mở rộng lĩnh vực kinh doanh truyền hình trên Internet bằng cách sử dụng Internet như một phương tiện truyền thông để truyền tải thông tin và cũng xem đây là công cụ để khán giả tương tác với truyền hình.

2.2. Đất nước hội nhập, Truyền hình cũng phải hội nhập:

2.2.1. Cơ hội phát triển của Truyền hình khi đất nước hội nhập:

Hiện tại, Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, điều này đánh dấu một bước phát triển cao hơn trong quá trình hội nhập – đây là kết quả tất yếu khi mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi mặt, tác động tới toàn bộ sự phát triển của mỗi quốc gia.

Cơ hội lớn nhất mà sự kiện nói trên đem lại cho chúng ta là từ nay nước ta đã có thể tham gia các thị trường thế giới (về vốn, hàng hóa, dịch vụ…) với tư cách một thành viên bình đẳng, không bị phân biệt đối xử. Khi các rào cản bị xóa bỏ, xuất khẩu nước ta sẽ có điều kiện tăng nhanh, dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào nước ta dự báo sẽ có chiều hướng tăng đột biến; từ đó kinh tế sẽ tăng trưởng mạnh mẽ, có thêm việc làm, thu nhập của nhân dân sẽ tăng, nhu cầu về nguồn thông tin trên thế giới cũng sẽ tăng nhanh. Ðây chính là một trong những tiền đề cần thiết khích lệ truyền hình đa phương tiện phát triển, thúc đẩy việc sáng tạo các sản phẩm của phương tiện truyền thông như truyền hình phát triển lên một tầm cao mới. Nhờ sự kế thừa và áp dụng nền khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới mà các hình thức truyền hình cũng được cải thiện phần nào, xuất hiện một loạt các loại truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số…

Điều này góp phần làm cho đời sống văn hóa, nhận thức của con người được nâng cao hơn, những hình ảnh âm thanh sống động của truyền hình làm cho người xem như được sống lại, chìm đắm trong khung cảnh đang chiếu, hang ngày nguồn thông tin quan trọng, nóng hổi được dư luận quan tâm nhất luôn được truyền hình đưa đến cho độc giả một cách chính xác, nhanh nhất, giúp cho người xem có những phản ứng kịp thời với thời thế…

Chúng ta cũng có cơ hội nhiều hơn để giới thiệu với bạn bè khắp năm châu những vẻ đẹp đẹp văn hóa, đời sống của dân tộc thông qua các phương tiện truyền thông như truyền hình số, góp phần làm phong phú nền văn hóa chung của nhân loại. Hội nhập mạnh mẽ với thế giới, chúng ta có dịp soát xét lại cơ chế, chính sách trên lĩnh vực văn hóa xem có gì lỗi thời cần sửa đổi cho phù hợp thông lệ, chuẩn mực thế giới mà vẫn tuân thủ những nguyên tắc của chúng ta.

         2.2.3. Thách thức đặt ra đối với Truyền Hình trong nước:

Truyền hình Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới, nước ta lại bị gián đoạn quá trình phát triển liên mien do chiến tranh, đi lên từ một nước nông nghiệp… cho nên lĩnh vực truyền hình cũng đã phải trải qua những chặng đường khó khăn nhất để tiến tới được như ngày hôm nay.

Truyền hình việt nam bắt đầu phát triển trong khi các nước tây âu đã trải qua thời kỳ phát triển đơn giản nhất, những nguồn thông tin, cách xử lý thông tin, rồi sự cạnh tranh khốc liệt của các loại hình truyền thông đa phương tiện khác… đặt truyền hình vào tình thế khó khăn hơn, Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn.

2.3. Xu hướng xã hội hóa Truyền hình:

2.3.1. Xã hội hóa truyền hình tạo cơ hội cho TH phát triển phong phú hơn:

Từ khi được nhà nước cho phép xã hội hóa truyền hình, tư nhân được quyền liên kết, liên doanh với nhà đài để sản xuất một phần (giờ phát sóng) hoặc toàn bộ sản phẩm truyền hình (kênh phát sóng). Nhà đài chịu trách nhiệm về nội dung, biên tập và truyền dẫn phát sóng; đơn vị liên kết lo đầu tư kinh phí, sản xuất chương trình. Truyền hình vốn là một sản phẩm đặc thù, kinh phí đầu tư cho sản phẩm này luôn được giới trong nghề gọi là “kinh doanh mặt hàng đốt tiền hàng ngày” nhưng lợi nhuận thu về cũng vô cùng lớn – nếu kinh doanh hiệu quả.

Với bài toán sống còn trong việc thu hồi vốn, muốn vậy phải làm sao thu hút được càng nhiều quảng cáo càng tốt. Bởi vậy, những đơn vị liên kết thường chọn đầu tư sản xuất các chương trình giải trí để thu hút khán giả, như chương trình Thử thách cùng bước nhảy, Người bí ẩn trên sóng HTV và Gương mặt thân quen… trên sóng VTV.

Khi có một, hai chương trình ăn khách, các đơn vị khác cũng ồ ạt mua bản quyền, đầu tư sản xuất các chương trình giải trí tương tự. Chính vì thế, vài năm lại đây, khán giả đã bắt đầu bội thực với hàng loạt chương trình giải trí na ná nhau, trên hầu hết các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương: các cuộc thi hát, thi nhảy, chương trình hài… Và trong cuộc cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt ấy, để tạo sự chú ý với người xem – đồng nghĩa với việc sẽ thu hút được nhiều quảng cáo, có đơn vị sẵn sàng làm ẩu, làm bừa, cố tình tạo scandal gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của nhà đài; hoặc thấy phim Hàn, phim Ấn phát trên kênh này được khán giả thích, thế là đơn vị khác cũng nhảy vô mua phim các nước ấy mang về phát trên kênh của mình. Kiểu kinh doanh ấy vừa đẩy giá bản quyền lên cao, vừa khiến cho chương trình truyền hình trở nên mất cân đối, đơn điệu và hạn chế thẩm mỹ người xem truyền hình.

          2.3.2. Thách thức đặt ra khi xã hội hóa truyền hình

Chúng ta đang sống trong một thế giới có đặc điểm nổi bật là sự bùng nổ thông tin trên phạm vi toàn cầu. Thông tin đã xen vào mọi lĩnh vực, chi phối và làm thay đổi phương thức vận hành, quản lý một số hoạt động xã hội. Các phương tiện thông tin đại chúng trong đó có truyền hình đều đã và đang phát triển nhanh chóng, vượt xa sự hình dung của nhiều người.

Truyền hình là một loại hình truyền thông đòi hỏi chi phí rất cao, hiện nay với nguồn kinh phí còn khiêm tốn được phân bổ từ nguồn ngân sách, diện phủ sóng và nguồn thu quảng cáo hạn chế, cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật còn thiếu và không đồng bộ nhưng phải liên tục đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung chương trình, tăng thời lượng phát sóng… là bài toán khó đối với các đài phát thanh, truyền hình địa phương. Việc thu hút các nguồn lực bên ngoài là một trong những giải pháp phù hợp trong quá trình vận động và phát triển hiện nay.

Hoạt động trong cơ chế thị trường, sản phẩm báo chí nói chung và sản phẩm truyền hình nói riêng đã trở thành hàng hóa – dịch vụ đặc biệt. Thực tế hiện nay kinh phí từ quảng cáo và các nguồn tài trợ trong xã hội là những đóng góp cơ bản cho sự phát triển đối với các đài truyền hình cả nước nói chung, đài phát thanh, truyền hình địa phương nói riêng. Cùng với sự nỗ lực của các đài truyền hình, trong nhiều năm qua, hoạt động quảng cáo và tài trợ đã nuôi sống nhiều chương trình truyền hình, đặc biệt là các chương trình phim truyện, hoặc Game show.Nếu không có quảng cáo và tài trợ, các đài truyền hình địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn về kinh phí hoạt động, sức hấp dẫn chương trình cũng sẽ bị hạn chế.

Để đảm bảo được mục tiêu đi đúng định hướng chính trị của Đảng, vừa phải góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, thực hiện nghĩa vụ kinh doanh để tồn tại và phát triển sự nghiệp truyền hình, các cơ quan báo chí địa phương nói chung, đài phát thanh, truyền hình địa phương nói riêng cần tăng cường quản lý nội dung chương trình thông qua công tác kiểm duyệt trước khi lên sóng. Làm tốt khâu kiểm duyệt, đặc biệt ở các chương trình giải trí, Game show sẽ hạn chế được nguy cơ lai tạp văn hóa, làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc, bởi nếu không tỉnh táo để biết đâu là giới hạn thì truyền hình sẽ rơi vào xu hướng thương mại hóa, chỉ chạy theo lợi nhuận kinh tế mà xa rời nguyên tắc tính nhân dân của báo chí.
Mặt khác, cần chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất chương trình một cách khoa học và cụ thể, tránh tình trạng quá lệ thuộc vào nguồn cung cấp chương trình của các đơn vị truyền thông bên ngoài mà rơi vào thế bị động, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của chương trình. Đối với nguồn nhân lực, cần đặc biệt quan tâm bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí cho đội ngũ cộng tác viên, hạn chế tình trạng nghiệp dư hoá truyền hình do mặt trái của quá trình xã hội hoá nguồn nhân lực mang lại.

2.4. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các kênh truyền hình với nhau:

     2.4.1. Truyền hình trả tiền đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn

Trong tương lai, tại Việt Nam, truyền hình quảng bá sẽ không còn là số 1 mà vị trí ấy thuộc về truyền hình trả tiền. Với truyền hình cáp VCTV của Đài THVN, cơ hội để phát triển đang rộng mở với nhiều lợi thế về cả truyền thống, vị thế và hệ thống truyền dẫn.

Tuy nhiên, nếu không nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ thì rất có thể, những lợi thế ấy sẽ giảm đi nhanh chóng trước sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều đối thủ. Ở góc độ quản lý, Cục trưởng Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ TT&TT) Hoàng Vĩnh Bảo cho rằng, thị trường truyền hình trả tiền tại Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ để thích nghi với chính sách quản lý mới của nhà nước. Vì vậy, bên cạnh việc thúc đẩy thị trường này phát triển, thời gian tới, Bộ TT&TT tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các quy định về quản lý, cung cấp dịch vụ để tạo hành lang pháp lý cho thị trường truyền hình trả tiền phát triển. Ông Bảo thông tin thêm, trước đây, lĩnh vực truyền hình trả tiền được áp dụng cơ chế chủ yếu quản lý về nội dung thông tin, vì vậy thiếu những quy định cụ thể về thị trường, hạ tầng, công nghệ kỹ thuật và dịch vụ

Dẫn điều tra thị trường truyền hình trả tiền tại Việt Nam cho biết năm 2009, thị trường mới có 4,2 triệu thuê bao thì việc cuối năm 2013 con số trên 6 triệu thuê bao là một mức tăng ấn tượng.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ mới nhất của truyền hình trả tiền để cung cấp cho khách hàng. Hiện, truyền hình cáp phổ biến nhất với thị phần 44%, truyền hình kỹ thuật số vệ tinh 10%, truyền hình giao thức Internet (IPTV) 10% và kỹ thuật số mặt đất là 36%.

Thị trường hiện nay cạnh tranh rất khốc liệt, nhiều doanh nghiệp thực hiện những chiêu khuyến mại xấu. Đơn cử như việc thu hút bằng cách “dụ” thuê bao dịch vụ của đối thủ sang dùng dịch vụ của mình thì sẽ được khuyến mãi 3-6 tháng thuê bao…

Ngoài ra, thách thức của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền thống chính là việc các các doanh nghiệp viễn thông như VNPT, Viettel, FPT… tham gia thị trường sẽ làm hạ giá dịch vụ. Ông Cường nói VN Pay TV đang nghiên cứu xây dựng quy định giá sàn để hạn chế việc này.
         2.4.2.Truyền hình số:

Truyền hình số mặt đất như của VTC, số vệ tinh như DTH của VTV, truyền hình cáp như của HTV v.v…. đã triển khai ở Việt Nam thời gian gần đây. Nhưng có điều song song với quá trình số hóa đa dạng đến mức phức tạp về các chuẩn công nghệ, truyền hình analog vẫn tiếp tục được các đài đẩy mạnh đầu tư thiết bị từ khâu sản xuất đến nâng vùng phủ sóng. Quy hoạch truyền hình ở Việt Nam cũng giống như bài toán giao thông, lộ trình chưa rõ ràng và thậm chí, đôi nơi, đôi lúc, dường như đó là sự phát triển tự phát…

Truyền hình số là truyền hình của thế kỷ 21, truyền hình của tương lai.

Khó có thể chấp nhận rằng ở một thành phố văn minh trong thế kỷ 21 này mà vẫn còn quá nhiều ăng ten thu hình truyền hình analog chĩa lên trời như một hệ thống phòng không.

Truyền hình số cho phép nhà sản xuất, nhà truyền thông khai thác đa dạng và phong phú hơn để phân cấp chất lượng tín hiệu theo từng ứng dụng khác nhau: Thời sự – Khoa học giáo dục – Văn nghệ – Phim truyện… hoặc phân cấp chất lượng theo từng công đoạn sản xuất chương trình: Tiền kỳ – Hậu kỳ – Truyền dẫn – Phát sóng, lưu trữ.

Truyền hình số có khả năng phục vụ bất kỳ ở đâu (anywhere), thiết bị thu hình có tính “di động”, có thể “xách tay” (Mobility & Portability)

         Xét trên mọi phương diện, truyền hình số đồng nghĩa với: tiên tiến, tích hợp, tương tác, tiết kiệm.

Vì nó mới nên không dễ chấp nhận.

Đòi hỏi của người xem ngày càng cao: Từ thụ động, chấp nhận, dễ thỏa mãn đến tích cực, tìm kiếm, lựa chọn, sàng lọc;

Truyền hình số mang đến tiện nghi, tiện ích, thuận tiện (Thuận tiện đôi khi còn cần hơn cả chất lượng); mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện; dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, rẻ hơn.

Truyền hình số phù hợp với sức ép của xã hội công nghiệp: hối hả hơn, năng động hơn, ít thời gian nhàn rỗi hơn. Và yêu cầu nắm bắt thông tin: thường xuyên hơn, liên tục hơn, cập nhật hơn.

2.4.3. Gameshow truyền hình cơ hội và thách thức trong thời đại đa phương tiện thông tin, giải trí:

Không còn cảnh khán giả xếp hàng rồng rắn ghi danh đi chơi game show truyền hình, khán giả theo dõi bắt đầu mỏi mệt.

Chỉ tính riêng Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình TP. HCM đã có hơn 18 chương trình game show, trong đó hơn 13 chương trình là của HTV. Trung bình mỗi ngày khán giả TP. HCM có điều kiện tiếp xúc khoảng 3 chương trình game show trên HTV và VTV, chưa kể một vài game show khác trên đài truyền hình các tỉnh lân cận. Dù kiên nhẫn đến mấy thì người xem cũng không tránh khỏi tâm lý mệt mỏi và nhàm chán.

Chỉ giải trí không thôi cũng chán

Sức hấp dẫn của các game show truyền hình là tạo ra sự tương tác giữa chương trình với khán giả qua màn ảnh nhỏ. Sự tương tác ấy có hiệu quả cao khi game show ấy thỏa mãn cả 2 nhu cầu: giải trí và lợi ích thiết thực mang lại cho khán giả tham gia. Thế nhưng phần lớn các game show truyền hình hiện nay chỉ chú trọng đến phần giải trí, phần lợi ích thiết thực mang lại cho khán giả tham gia có chăng là những giải thưởng dự đoán, thông qua dịch vụ điện thoại mà xác suất trúng giải gần như bằng không.

Có những game show với mục đích giải trí nhưng khiến khán giả bực mình như Chung sức. Dù người tổ chức lấy kết quả khảo sát của 100 người để làm đáp án, nhưng con số 100 người ấy không đại diện cho số đông các thành phần trong xã hội hiện nay, nên những thông tin đưa ra phần lớn là không phù hợp, thậm chí phản cảm, phản khoa học. Do vậy chương trình ít mang lại lợi ích thiết thực cho khán giả. Chương trình game show Hát với ngôi sao nhưng chẳng thấy ngôi sao đâu cả.

“Bội thực” gameshow

Cách đây 12 năm, gameshwow đầu tiên SV’96 rất ăn khách. Thời hoàng kim của gameshow được đánh dấu bằng những chương trình tạo được tiếng vang như: Hành trình văn hoá, Chiếc nón kỳ diệu, Đường lên đỉnh Olympia, Trò chơi âm nhạc… Hai năm trở lại đây, các đài TH tăng kênh, tăng giờ phát sóng thì gameshow càng được sản xuất nhiều. Cứ lớp gameshow này “đuối”, các đài truyền hình lại xoay qua làm gameshow mới để lấp sóng.

Có thể nói, các gameshow rất “hot” người chơi, bởi đi thi là có tiền thưởng. Có khá nhiều gameshow đưa ra mức thưởng khá cao. Nhiều gameshow, nhưng còn ít chương trình có dấu ấn riêng, đáp ứng được hai tiêu chí: Trí tuệ và giải trí, được người xem đón chờ như: Đấu trường 100, Rung chuông vàng, Chúng tôi là chiến sĩ, Chiếc nón kỳ diệu, Đường lên đỉnh Olympia…

Chương 3 – GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN HÌNH TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

3.1. Tăng cường công tác quản lý

Trước tiên, có thể khẳng định rằng để nâng cao được chất lượng chương trình, thì công tác đánh giá và quản lý chất lượng chương trình là khâu tiên quyết. Vì qua đó, biết được mình đang ở đâu và cần phải làm gì. Tuy nhiên, đây là việc khó cần phải được thực hiện với các phương pháp, như tổ chức thăm dò ý kiến khán giả, đo tỷ lệ người theo dõi, tiếp cận chương trình…, đồng thời, tùy theo chương trình cụ thể mà có những tiêu chí đánh giá khác nhau, chẳng hạn như tin tức thời sự thì được đánh giá bởi các tiêu chí như: tính thời sự, tính địa phương, tính nhân văn, yếu tố hình ảnh, yếu tố mới… để có kết quả đánh giá khoa học, khách quan, chính xác. Trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp sát hợp, có tính khả thi cao.

Quan tâm đổi mới phương thức quản lý, lãnh đạo và biên tập chương trình của Ban Giám đốc Đài. Tập trung chỉ đạo, quản lý tốt nội dung, chương trình theo đúng định hướng quan điểm, tư tưởng chỉ đạo từ đầu vào cho đến đầu ra của từng sản phẩm chương trình. Vấn đề là làm thế nào để không bao biện làm thay, không sa vào công việc cụ thể mà luôn tạo được hành lang, không gian thích hợp nhằm đảm bảo cho sự linh hoạt, năng động sáng tạo của lãnh đạo các phòng, ban của Đài nảy nở và phát triển.

Tăng cường công tác quản lý và nâng cao chất lượng công tác biên tập ở các phòng, ban của Đài. Hoạt động của Biên tập viên luôn nặng nề và phức tạp, là người không chỉ chịu trách nhiệm về công việc của mình mà còn có chịu trách nhiệm đối với một lĩnh vực, toàn bộ khâu biên tập và các cộng tác viên. Để hoàn thành tốt công việc đó, đòi hỏi người làm công tác biên tập không ngừng rèn luyện để nâng cao khả năng tư duy, kỹ năng báo chí chuyên nghiệp và có đầu óc tổ chức. Trong tình hình thực tế hiện nay ở Đài PTTH Kiên Giang rất cần ở người biên tập viên vừa là người tổ chức, đồng thời tích cực tham gia vào quá trình sản xuất chương trình. Đây là việc làm rất cần thiết, vì thông qua đó vừa rèn luyện khả năng, kỹ năng vừa làm trách nhiệm của “người phụ trách” trong việc truyền kinh nghiệm cho lớp trẻ. Bên cạnh đó, cũng bổ sung kiến thức về độ nhanh nhạy, sự năng động, sáng tạo của lớp trẻ để làm phong phú cho công tác biên tập của mình.

3.2. Xây dựng dội ngũ lãnh đạo quản lý công việc:

Về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đài. Nhìn vào thực lực đội ngũ cán bộ hiện tại của Đài có thể đảm đương tốt nhiệm vụ trước mắt và những năm tới. Tuy nhiên, vấn đề bức thiết hiện nay là sự quan tâm bồi dưỡng, sử dụng để phát huy một cách tốt nhất khả năng và sự tâm huyết của đội ngũ cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, Ban lãnh đạo Đài trong công tác quản lý, phân công giao việc và kiểm tra việc thực thực hiện nhiệm vụ đối với từng cán bộ mà trọng tâm là những người đã được quy hoạch, để qua đó bồi dưỡng, bố trí, đề bạt, sử dụng một cách có hiệu quả. Trong quá trình thực hiện phải chú trọng và cần phải thể hiện tốt vai trò nêu gương của tập thể lãnh đạo, nhất là người đứng đầu; tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác quản lý điều hành giữ vững khối đoàn kết thống nhất trên cơ sở phát huy dân chủ.

Quan tâm xây dựng đội ngũ phóng viên giỏi về chuyên môn, trong sáng về đạo đức. Rà soát đánh giá trình độ của đội ngũ cán bộ, tiến hành từng bước công tác đào tạo, đào tạo lại nâng cao trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ phóng viên, biên tập, quay phim, kỹ thuật. Chú trọng công tác phân công giao việc phù hợp với khả năng, sở trường để mỗi phóng viên phát huy tốt khả năng của mình. Bên cạnh đó, động viên, khuyến khích họ tìm tòi, xung phong thực hiện, giải quyết những việc mới, việc khó mà ở đó cần có sức bật và sự tâm huyết của tuổi trẻ; ra sức rèn luyện kỹ năng, bản lĩnh, hăng hái lao vào thực tế cuộc sống, nắm bắt được hơi thở của cuộc sống để tạo ra những sản phẩm chương trình có chất lượng cao vừa phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị của địa phương, vừa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi bức thiết của cuộc sống.

3.3. MC truyền hình cần phải thay đổi cho hiện đại mới mẻ để khắc phục sự nhàm chán

để truyền hình việt Nam có chỗ đứng vũng chắc, lượng khan giả đón xem đông đảo thì MC truyền hình cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng làm nên thành công của một chương trình. MC – cầu nối không thể thiếu của chương trình, đặc biệt là những chương trình mới toanh, với khán giả – cũng là vấn đề gây đau đầu cho các nhà sản xuất. Hầu hết những show THTT thành công ở nước ngoài đều mang đậm dấu ấn của MC.

Tại VN, thật không dễ để tìm kiếm ra một MC năng động, thông minh, dí dỏm, nhạy cảm, giỏi ứng biến… (tiêu chuẩn để dẫn một show truyền hình thực tế). Vì vậy hiện tại vẫn chưa có MC nào của các show THTT tại VN chiếm được nhiều cảm tình của bạn xem đài, giúp người xem tiếp cận với thể loại mới mẻ này một cách “ngọt ngào” nhất.

3.4. Truyền hình Việt Nam phải lên kế hoạch cạnh tranh với các loại hình báo chí truyền thông khác:

Với ưu thế về âm thanh, hình ảnh sống động sắc nét, truyền hình có thể vượt qua được báo in , phát thanh.

Nhưng hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, loài người phát minh ra nhiều cách truyền thông tin khác nhau, đặc biệt bước đột phá mới trong ngành truyền thông là mạng internet. Sự xuất hiện của mạng internet, làm cho ngành báo mạng phát triển mạnh mẽ, trở thành đối thủ cạnh tranh số 1 với truyền hình. Chỉ với một chiếc máy tính, khi click chuột vào thì cả thế giới mở ra trước mắt, lôi cuốn, hấp dẫn, chúng ta chỉ việc ngồi ở nhà nhưng mọi chuyện xảy ra ở đâu, giờ nào trên thế giới chúng ta đều có thể biết.

Báo mạng còn có lợi thế là các thông tin liên kết, có đường link dẫn, người đọc có thể lưu lại vầ đọc bất cứ khi nào có thời gian, không như truyền hinhf, xem phải đúng giờ, nếu muốn xem lại thì phải đợi các kênh khác phát lại, như vậy thì nguồn thông tin đã trôi qua…

Điều này đặt truyền hình vào tình thế rất khó khăn,đòi hỏi truyền hình phải thay đổi một số chương trình cho bắt mắt hơn, hấp dẫn hơn, các kênh truyền hình kỹ thuật số, vtc, truyền hình cáp…tất cả đều phải thực hiện bước cải tiến, làm thế nào để nắm bắt được xu thế của thời đại, đánh ào niềm đam mê yêu thích của loài người, cần áp dụng những tiến bộ khoa học hiện đại vào ngành truyền hình.

Làm thế nào để cập nhật được những thông tin nóng nhất, được nhiều người quan tâm chú ý nhất, nguồn thông tin đòi hỏi phải có độ chính xác cao, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập như ngày nay, thì truyền hình phải vươn ra nước ngoài, phát song với mức độ nhiều, với các thứ tiếng khác nhau, để không chỉ người Việt Nam biết đến, mà còn phải đưa văn hóa việt đến với bạn bè năm châu.

 

KẾT LUẬN

Qua phân tích, tìm hiểu những cơ hội đặt ra và thách thức cho loại phương tiện truyền thông- truyền hình, chúng ta thấy.

Xã hội ngày càng phát triển tiên tiến hiện đại, sự gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội lớn cho ngành truyền thông, đặc biệt là truyền hình, mở ra một chân trời, một cánh cửa mới hiện đại cho con người, đặt truyền hình vào thời cơ và thách thức lớn.

So với báo mạng điện tử truyền hình ra đời sớm hơn, nên có nhiều lợi thế cạnh tranh trong nước, với sự nỗ lực của mình các nhà truyền hình đã, và đang dần cải thiện, làm cho truyền hình có sức hút hơn các loại phương tiện truyên thông khác, và sự thay đổi đó mang đến hiện tượng xã hội hóa truyền hình.

Xã hội hóa (XHH) truyền hình (TH) manh nha tại Việt Nam từ gần chục năm trước. Hai năm trở lại đây đã cho những kết quả đáng mừng và hiện đang trở thành vấn đề thời sự nhất trong làng TH cả nước. Mặc dù vậy, cho đến nay XHH TH vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi.

Khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, nước ta thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế. Cũng từ đó, nhiều lĩnh vực không còn bó hẹp trong sự hoạch định của Nhà nước mà được phát triển theo quy luật cung – cầu. Càng ngày chúng ta càng thừa nhận tính đúng đắn của sự chuyển đổi ấy. Cùng với quá trình này, khái niệm XHH không còn xa lạ. Nó đã được hiểu là “làm cho mang tính xã hội” hay “huy động toàn xã hội tham gia”.

Cũng mang nghĩa này, XHH TH chính là “sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành TH“. Điều đó có nghĩa là trong các khâu sản xuất, hình thành tác phẩm của một chương trình TH, có sự tham gia của một hoặc nhiều đơn vị, cơ quan không thuộc nhà Đài

“Bản chất của xã hội hoá không phải là vì tiền, mà là việc lôi kéo nhiều đơn vị, tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm tải cho nhà Đài cũng như tạo ra hiệu quả tốt nhất cho các chương trình truyền hình. Và nó sẽ thu hút đựơc sự quan tâm và ủng hộ của công chúng”. – Trần Đăng Tuấn (Phó TGĐ thường trực VTV)

Được quan tâm và tạo điều kiện đến thế, nhưng XHH TH đến nay vẫn chưa đạt tiến độ như lẽ ra phải có được. Không phải bỗng dưng mà XHH TH trở thành chủ đề được bàn đến tại hai liên hoan TH Toàn quốc liên tiếp (2006 và 2007). Những người làm TH hẳn cũng đã ý thức được sự hấp dẫn của vấn đề khi quyết định tổ chức các hội thảo mở rộng trong khuôn khổ của ngày hội TH lớn nhất cả nước. Điều này chứng tỏ vấn đề XHH TH đang rất được quan tâm. Và thực tế thậm chí còn “nóng” hơn họ tưởng.

Rất nhiều giám đốc các công ty truyền thông và cả những người đang có ý định tham gia sản xuất chương trình TH đã bay từ Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh để tham dự hội thảo. Không khí sôi động, sự quan tâm và số lượng các câu hỏi xung quanh việc XHH TH đã khiến nhà báo Tạ Bích Loan (lúc đó là Phó trưởng ban Thể thao Giải trí – Thông tin, Kinh tế – Đài THVN) phải ngạc nhiên: “Không ngờ không khí sản xuất từ ngoài Đài lại sôi động đến thế!”.

Đón đầu xu hướng XHH, các công ty truyền thông ra đời ngày càng nhiều. Họ mạnh dạn trong đầu tư, năng động trong cơ cấu và hoạt động, nên quan tâm đến XHH TH là đương nhiên. Không chờ đợi một cách thụ động, nhiều đơn vị đến gõ cửa nhà đài chào bán chương trình, đăng ký sản xuất, nhận mời tài trợ… Đáng tiếc là chính các nhà Đài – những người giữ vai trò quản lý lại đang rơi vào thế bị động.

Không có nghĩa là không thể làm gì trước sự chủ động của các công ty sản xuất tư nhân đang ngày càng chuyên nghiệp. Mà sự bị động của các nhà đài thể hiện ở chỗ, trong vai trò người tổ chức thực hiện nhưng họ không đưa ra được những phương thức hợp tác phù hợp để khuyến khích cả hai. Mỗi đài một kiểu, vẫn tiếp nhận sự tham gia của các đơn vị bên ngoài, nhưng cách thức hợp tác của họ đang khiến các đơn vị ngoài đài mệt mỏi.

Chủ trương của Nhà nước là tổ chức các đơn vị ngoài đài tham gia vào quá trình sản xuất để chuyên môn hóa nền TH và giảm tải cho các đài trước sức ép tăng thời lượng phát sóng, vì mục tiêu cuối cùng là phục vụ khán giả tốt hơn. Nhưng trên thực tế, các nhà Đài chưa khai thác được sức mạnh của đội quân ngày càng đông đảo và luôn trong tư thế sẵn sàng này. Ngược lại, sự chần chừ, bị động của họ đang làm nảy sinh hàng loạt vấn đề trong công tác quản lý và quy hoạch TH, làm giảm hiệu qủa của một chủ trương hoàn toàn tích cực.

Truyền hình là một kênh thông tin quan trọng, hằng ngày, hằng giờ cung cấp thông tin cho công chúng. Là một người đóng vai trò đem đến cái mới cho công chúng, truyền hình luôn phải tự hoàn thiện mình để phát triển. Từ buổi đầu ra đời cho đến nay, truyền hình phải trải qua nhiều xu hướng khác nhau để phát triển. Một xu hướng cũ qua đi thì một xu hướng khác, mới hơn, tiến bộ hơn lại hình thành. Trong giai đoạn toàn cầu hóa thông tin ngày nay, vũ khí quan trọng nhất chính là thông tin, kiểm soát và tận dụng hiệu quả của thông tin thì quốc gia đó sẽ tạo dựng được chỗ đứng cho mình trên trường quốc tế.

Qúa trình thương mại hóa truyền hình và hình thành các tập đoàn báo chí truyền hình vẫn tiếp tục phát triển. Truyền hình ngày nay sống nhờ nguồn thu từ quảng cáo. Bên cạnh đó, các kênh thông tin truyền hình đã tự đổi mới và biến mình thành như một tập đoàn kinh tế, không chỉ hoạt động trong lĩnh vực truyền thông mà còn lấn sân sang các hình thức kinh doanh khác. Xu hướng thương mại hóa báo chí truyền hình còn đặt ra thách thức đối với người làm truyền hình đó là: làm thế nào để không bị đồng tiền chi phối tin tức… nhưng xem ra vấn đề này rất nan giải.

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các kênh truyền hình đã biến cơ quan của truyền thông của mình thành một kênh thông tin đa phương tiện. Thông tin dưới nhiều hình thức sẽ giúp cho khán giả có nhiều lựa chọn cho mình.

Truyền hình Việt Nam là loại phương tiện truyền thông đang được khan giả quan tâm ưa chuộng, nên trong tương lai, truyền hình sẽ khắc phục được những điểm yếu của mình để phát triển vững mạnh, cạnh tranh với các loại hình truyền thông khác.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Báo chí hiện đại nước ngoài: Những quy tắc và nghịch lý – X.A.Mikhailốp
  • Nhà báo hiện đại – The Missouri Group – NXB Trẻ 2007
  • Tạp chí truyền hình
  • Bài giảng báo truyền hình – PGS.TS Dương Xuân Sơn
  • Bài giảng thiết kế tạp chí – Th.s Vũ Trà My.
  • Interactive television – Wikipedia.org
  • The State of the news Media 2008 – Journalism.org
  • http://www.vietnamjournalism.com/
  • http://www.nghebao.com
  • http://vietnamnet.vn/

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



1 Comment

  1. Hải says: Reply

    Cảm ơn bạn nhiều nhé, mình đang học Cao học Báo chí K21,nếu có tài liệu gì gửi giúp mình vào địa chỉ Email đó giúp với nhé, Thank.

Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>