Tám nhánh Yoga theo Yoga Sutra của Patajani

YAMA – Sự kiềm chế, lời thề đạo đức xã hội

Nhánh đầu tiên của Yoga đề cập tới những lời thề, quy tắc của cuộc sống xung quanh chúng ta và sự tương tác của chúng ta với thế giới. Việc tập luyện Yoga thật sự có thể tăng cường sức khỏe, sự dẻo dai và giúp trấn tĩnh não, nhưng sẽ thế nào nếu chúng ta vẫn cảm thấy căng thẳng, yếu ớt và cơ thể cứng nhắc ngay cả khi làm những công việc hàng ngày?

Có 5 loại Yama: Ahimsa (không bạo lực), Satya (Sự thật), Asteya (không trộm cắp), Brahmacharya (sử dụng hợp lý năng lượng) và Aparigraha (không tham lam, không khoe khoang).

Yoga là phương pháp mang tính chuyển hóa và đem lại lợi ích dài lâu cho mọi mặt của cuộc sống. Nếu chúng ta trở nên tốt bụng, hành thật và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng thì Yoga không chỉ có tác dụng tích cực với chúng ta mà còn với cả mọi người xung quanh nữa.

92556877df9d34f6844373ef8949e9c0

NIYAMA – Nhiệm vụ tích cực, sự tuân thủ

Nhánh thứ hai, Niyama thường được dùng để chỉ những nhiệm vụ của bản thân, nhưng đồng thời cũng được xem như những hành động của chúng ta đối với thế giới bên ngoài. Tiền tố “Ni” là một động từ trong tiếng Phạn có nghĩa là “bên trong”, “hướng vào trong”.

Có 5 loại Niyama: Saucha (Sự sạch sẽ), Santosha (Sự thỏa mãn), Tapas (ngọn lửa khát vọng), svadhyaya (tự học hỏi), isvarapranidaha (đầu hàng với thần linh).

Theo truyền thống, Niyama thường được tập luyện bởi những người có mong muốn tìm hiểu sâu hơn về Yoga và mong muốn rèn giũa bản thân. Điều thú vị là Niyama gắn bó chặt chẽ với các Kosha – những vỏ bọc về cơ thể, thể chất và tâm linh. Nếu chú ý quan sát chúng ta sẽ thấy rằng khi thực hiện theo các Niyama, chúng ta đang tiến gần hơn tới sự thật ẩn sâu bên trong.

ASANA – Các tư thế

Asana là khia cạnh cơ thể vật lý của Yoga, là nhánh thứ ba trên con đường tiến đến sự tự do. Asana không nhất thiết phải là các tư thế giữ thăng bằng bằng tay hay những tư thế uốn sau nghệ thuật, Asana chỉ đơn giản mang nghĩa là “Ngồi” – cụ thể là những tư thế ngồi giúp chúng ta thiền được sâu. Định tuyến duy nhất theo Patanjali về Asana chính là “sthira sukham asanam” – những tư thế cơ thể bền vững và thoải mái.

Dù trong những văn bản truyền thống có đề cập đến những tư thế như Padmasana (tư thế hoa sen) hay Virasana (tư thế anh hùng) là những tư thế phù hợp nhất để thiền; nhưng những văn bản đó cũng nhấn mạnh yếu tố quan trong nhất trong các tư thế chính là sthirasukhasana – “tư thế mà người tập cảm thấy thoải mái và bền vững”.

Điều quan trọng cần ghi nhớ ở đây chính là việc ngồi ở tư thế thoải mái nhất, sao cho cơ thể không bị đau, bị căng bởi những tư thế không thoải mái. Chúng ta nên nhớ lấy điều này khi tham gia các lớp Yoga vì điều quan trọng không phải là chúng ta có thể thực hiện bao nhiêu tư thế nâng cao mà là chúng ta cảm thấy thật sự thoải mái và cân bằng ở những tư thế nào.

PRANAYAMA – Các kỹ thuật thở

Prana có nghĩa là năng lượng, sinh khí, hoặc cũng được dùng để nói đến bản chất của chính chúng ta, cũng như nguồn năng lượng vũ trụ xung quanh chúng ta nữa. Prana cũng được sử dụng để miêu tả hơi thở, và bằng cách tác động tới hơi thở chúng ta có thể thay đổi được tâm trí.

Pranayama có thể được hiểu tách ra là “Prana-yama” nghĩa là “hơi thở-kiểm soát” hoặc kiểm soát hơi thở; hoặc có thể hiểu là “Prana-ayama” – có thể hiều là sự tự do của hơi thở, mở rộng hoặc giải phóng hơi thở.

Việc kiểm soát hơi thở vật lý có thể tác động tới não bộ theo rất nhiều cách khác nhau. Chúng ta có thể chọn những bài tập thở ổn định như Chandra Bhadana (thở kích hoạt mặt trăng), hoặc phương pháp mang tính kích thích như Kapalabhati (phương pháp thanh lọc não).

Phương pháp thở nào cũng có thể thay đổi trạng thái của chúng ta, nhưng có thể thay đổi theo hướng kiểm soát cảm xúc hay giải phóng tâm trí thì lại phụ thuộc vào cách nhìn nhận và tập luyện của mỗi người.

PRATYAHARA – Sử dụng hợp lý các giác quan

Pratya nghĩa là “thu hồi’, “rút lại”; ahara để nhắc đến bất kỳ thứ gì chúng ta nhận lại, ví dụ như cảnh vậy, âm thanh hay mùi hương mà các giác quan liên tiếp thu nhận được. Khi tham gia một buổi thiền chính thống, điều đầu tiên mà chúng ta cần thực hiện đó là tập trung vào việc “thu hồi”. Quá trình thu hồi này có thể bao gồm việc tập trung vào hơi thở, vì vậy nhánh thứ năm này của Yoga cũng có liên quan trực tiếp tới các phương pháp thở Pranayama.

Cụm từ “thu hồi các giác quan” thường khiến chúng ta tưởng tượng ra việc ngắt các công tắc của các giác quan. Thật ra luyện tập Pratyahara không phải là loại trừ mọi giác quan như thính giác, khứu giác mà là khiến tâm trí tập trung đến mức không thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài, giúp chúng ta có thể thiền sâu và không bị gián đoạn. Những người thực hành Pratyahara giàu kinh nghiệm có thể đạt đưuọc sự tập trung đến mức luôn chú tâm và ở lại với thực tại và tâm trí không hề bị ảnh hưởng bởi những thông tin thu nhận bới các giác quan.

DHARANA – Tập trung

Dharna nghĩa là sự tập trung thiền định. Dha nghĩa là “giữ, duy trì”, ana nghĩa là “khác, những vật khác”. Dharana gắn bó mật thiết với nhánh Pranayama và Pratyahara. Để có thể tập trung, chúng ta nên thu hồi các giác quan để dồn tất cả sự tập trung chú ý; và ngược lại, để thu hồi các giác quan chúng ta cũng cần cố gắng tập trung. Tratak (thiền nến), sự mường tượng và tập trung vào hơi thở thì đều là các phương pháp luyện tập Thiền.

DHYANA – Thiền định

Nhánh thứ bảy của Yoga là sự thiền định. Khi chúng ta trở nên hoàn toàn tập trung vào việc thiền định thì đó chính là lúc chúng ta đang thật sự thiền. Tất cả những kiến thức, kỹ thuật chúng ta học được trên lớp, trên mạng hoặc từ thầy cô đều nhằm để giúp chúng ta đạt được sự ổn định tập trung. Thật ra, thiền không phải là việc chúng ta có thể “làm được”, mà đúng ra nó được miêu tả như một hành động ngẫu nhiên xảy ra và hành động ngẫu nhiên này là kết quả của tất cả các hành động khác. Về cơ bản, khi thiền chúng ta sẽ không có suy nghĩ nào ví dụ như “Ồ, tôi đang thiền..”

SAMADHY – Niềm cực lạc, sự khai sáng

Nhiều người đã biết rằng Samadhi nghĩa là “Cực lạc” hoặc “khai sáng”, và đây cũng là nhánh cuối cùng trong Yoga Sutras của Patanjali. Sau khi sắp xếp và cải thiện mối quan hệ với thế giới bên ngoài và với chính mình, chúng ta sẽ bước tới được bậc cao nhất của hạnh phúc.

Tìm hiểu nghĩa của từ Samadhi, chúng ta nhận ra rằng “sự khai sáng” hay “sự nhận thức” không đồng nghĩa với cảm giác vui sướng như đang bồng bềnh trên mây. Tách đôi từ ngữ chúng ta thấy Samadhi được hình thành từ hai từ “sama” – “giống nhau, bình đẳng” và “dhi: – nghĩa là “nhìn, hiểu”. Lý do chúng ta hiểu nhánh này là sự nhận thức vì Samadhi không phải là sự trốn thoát hay giải thoát mà là việc nhận thức được ra rằng sự sống luôn hiện diện ở ngay trước mắt chúng ta.

Khả năng nhìn nhận mọi việc một cách công bằng, không bị can thiệp bởi những sở thích, sở ghét hay những thói quen, trải nghiệm cá nhân, nhìn nhận mà không phán xét, đó chính là niềm hạnh phúc tột cùng.

Tuy nhiên, Samadhi không phải là một trạng thái vĩnh viễn. Yoga Sutras của Patanjali đặc biệt nhấn mạnh với chúng ta rằng, chỉ khi nào chúng ta đã hoàn toàn sẵn sàng gạt bỏ mọi sự liên hệ, thói quen, những mối ác cảm và đạt được một tâm trí hoàn toàn trong sạch thì trạng thái Samadhi mới đưuọc duy trì lâu dài.

Khi tâm trí đã trở nên hoàn toàn trong sạch và chúng ta có thể duy trì được trạng thái Samadhi, thì chúng ta sẽ đạt được Moksha, hay còn được gọi là Mukti – là trạng thái hoàn toàn giải phóng, tự do vĩnh viễn.

Nguồn: Internet



Leave a Reply

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>